View Full Version : Các Thủ Thuật Hay Trên Computer
Kường™
11-07-2008, 08:01 AM
topic này sẽ úp những kỹ năng, thủ thuật, kinh nghiệm về vi tính cho mọi người. Cho dù đó là những thủ thuật đơn giản nhưng không phải ai cũng biết.
Đề nghị các bạn không thắc mắc trong này, chúng ta chỉ đưa thông tin chia sẻ lên mà thôi.
Nếu thắc mắc xin mời sang topíc thắc mắc.
Hi vọng nhận được các chia sẻ nhiều của mọi người
Kường™
11-07-2008, 08:04 AM
Nhiều người vẫn tưởng rằng Recycle Bin tồn tại trong hệ điều hành Windows là một giải pháp tốt nhưng thực chất thùng rác lại “ngốn” rất nhiều diện tích. Nếu bạn không xóa hoàn toàn các file vô bổ ra khỏi ổ rác thì có ngày bạn sẽ “bội thực” với chúng.
Hệ điều hành từ thế hệ Windows Server 2003 trở lên có hai phương pháp giúp ngừoi dùng xóa một file hoàn toàn mà không “gửi” sang Recycle Bin. Tuy nhiên, hãy cẩn thận vì những cách này sẽ xóa ngay lập tức những file mà bạn đã delete.
Cách đơn giản nhất là bấm giữ phím Shift trong khi xóa một file nào đó. Ngoài ra chức năng Group Policy trong hệ điều hành cũng giúp bạn thay đổi cách thức hệ thống xử lý các dữ liệu bị xóa. Bạn chỉ cần thực hiện theo các bước sau:
Chọn Start Run, sau đó gõ lệnh gpedit.msc và OK. Sau khi hộp thoại ứng dụng Group Policy xuất hiện, bạn hãy chọn thẻ User Configuration | Administrative Templates | Windows Components | Windows Explorer.
Từ một bảng list các cài đặt vừa xuất hiện, bạn tìm và click vào mục Do Not Move Deleted Files To The Recycle Bin entry. Sau đó, bạn hãy đổi cài đặt từ chế độ Not Configured hoặc Disabled sang thành chế độ Enabled.
Ngoài ra, Bạn cũng có thể chỉnh sửa cách xóa file bằng cách tùy chỉnh trong registry. Thực hiện theo các bước sau:
Đăng nhập vào registry bằng dòng lệnh Start | Run và nhập Regedit.exe. Ngay lập tức Registor xuất hiện, bạn hãy chọn H***_CURRENT_USER | Software | Microsoft | Windows | CurrentVersion | Policies | Explorer.
Bạn hãy gán giá trị là 1 trong khung DWORD value (NoRecycleFiles). Tiếp theo hãy đóng cửa sổ Registry Editor rồi khởi động lại hệ thống để các thay đổi trong cài đặt có tác dụng.
Lưu ý: Mọi tùy chỉnh trong Registry là rất nguy hiểm nên bạn cần phải sao lưu trước khi thực hiện bất cứ thay đổi nào.
Kường™
11-07-2008, 08:24 AM
Một ngày nào đó bỗng dưng chiếc máy tính thân quen của chúng ta trở chứng, không chịu khởi động trơn tru để nạp hệ điều hành với giao diện màn hình quen thuộc... Có nhiều lý do dẫn đến điều này.
Sau khi đã loại trừ nguyên nhân từ phần cứng, đừng vội can thiệp bằng cách format ổ đĩa để cài lại hệ điều hành bởi Windows đã chuẩn bị cho người dùng một cách khắc phục an toàn thông qua Safe mode.
Có thể vì bạn đã cài vào máy nhiều phần mềm mới, nạp driver cho thiết bị nào đó và xung đột xảy ra. Hãy tái khởi động máy, khi nhận thông báo Please select the operating system to start hãy ấn phím F8 để bước vào chế độ khởi động với Safe mode, với chế độ này hệ điều hành chỉ nạp vào chương trình những file và trình điều khiển thiết bị căn bản cần thiết nhất. Những gì được coi là thừa sẽ không nạp lên. Sau khi vào được Windows, có thể từ môi trường đồ họa đó xử lý sự cố, cũng có thể vào được Safe mode, kế tiếp chỉ cần tái khởi động máy lại là xong. Với Windows XP chế độ Safe mode bao gồm:
- Safe mode: Nạp driver và các file thiết yếu nhất như đã trình bày.
- Safe mode with Networking: Chạy dưới chế độ này, ngoài việc nạp file, driver như thông thường, sẽ có thêm các dịch vụ giúp chúng ta có thể làm việc trong mạng.
- Safe mode with Command Prompt: Tùy chọn này cho phép chạy chương trình và gọi thêm file cmd.exe để hoạt động trong môi trường giao diện dòng lệnh, tất nhiên người dùng phải thông thạo các lệnh trên Dos.
- Enable Boot Logging: Tất cả những trình điều khiển thiết bị và dịch vụ được nạp lên sẽ ghi lại trong file có tên ntbtlog.txt rất hữu ích để chúng ta có thể đọc và tìm ra chính xác nguyên nhân gây trục trặc cho hệ thống.
- Enable VGA Mode: Khởi động và nạp driver căn bản của Windows cho card tăng tốc đồ họa. Nó khá hữu dụng để xác định có phải trước đó bạn đã cài một driver mới cho card tăng tốc đồ họa và đó chính là nguyên nhân gây ra sự cố.
- Last Known Good Configuration: Máy tính được khởi động và dùng các thông tin trong Registry mà Windows lưu lại từ lần tắt máy hoàn chỉnh gần đây nhất.
- Directory Service Restore Mode: Khởi động và có thể phục hồi qua System Restore.
- Debugging Mode: Có thể phục hồi thông qua Remote Install Service.
Mặc định của việc chạy chương trình Safe mode là ô sáng nằm ở phần khởi động Windows một cách bình thường, do vậy, muốn chọn 1 trong 8 cách nói trên phải dùng phím mũi tên để di chuyển đến rồi nhấn Enter. Khi máy đã vào được Safe mode, việc tìm nguyên nhân, khắc phục hậu quả để hệ điều hành hoạt động trở lại sẽ nhẹ nhàng hơn là cài đặt mới hệ điều hành. Tất nhiên đó là những lỗi, những xung đột không quá nghiêm trọng mà Windows còn có thể khắc phục.
Kường™
11-07-2008, 08:25 AM
Chắc hẳn bạn đã gặp phiền phức khá nhiều khi người lạ ngồi vào máy tính của mình mà không có mình bên cạnh. Bạn đã từng bị người khác đọc được những file dữ liệu bạn vừa truy xuất (khoảng 20 file để từ file mới nhất?) Sau đây là một vài thủ thuật nhỏ để bạn có thể bảo vệ được máy tính tránh sự tò mò, táy máy của người khác.
Làm ẩn các ổ đĩa trong My Computer (Windows9x và NT)
Thiết lập này cho phép bạn điều khiển sự hiện diện của các ổ đĩa trong My Computer, giúp bạn ẩn tất cả hay một ổ đĩa được chọn.
Các số thập phân tương ứng với các ổ đĩa cần ẩn (tối đa 26 ổ đĩa tương ứng với bảng chữ cái A đến Z): A:1, B:2, C:4, D:8, E:16, F:32, H:64, G:128, ...; Y:16777216; Z:33554432 (chỉ cần nhân 2 số của ổ đĩa đứng trước sẽ có số của ổ đĩa cần ẩn). ẩn tất cả: 67108863.
Ðầu tiên bạn hãy vào menu Start, chọn Run, đánh lệnh "REGEDIT" sau đó đi theo khoá sau:
***: [H***_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\Curre ntVersion\Policies\Explorer]
Sau đó vào phần hộp thoại phía bên phải click chuột phải vào [Neww\DWORD value] bạn sẽ nhận được 1 Value name mới. Bạn hãy rename nó lại thành NoDrives, sau khi đã đặt tên bạn hãy click phải chuột vào nó và chọn [Modify], bạn hãy nhập số vào phần Valuedate, tiếp tục OK và thoát ra khởi động lại máy để thay đổi có hiệu lực.
Lưu ý: Các ổ đĩa này vẫn xuất hiện trong File Manager, để gỡ bỏ File Manager hãy xóa file Winfile.exe
2. Không thêm các file mới mở vào mục Documents trên menu Start (Windows9x và NT)
Khi mở hay truy xuất tư liệu, tên của nó sẽ được thêm vào danh sách các thư mục mới mở trong Documents trên menu Start. Thủ thuật này không cho thêm vào các file đó trong danh sách.
Ðầu tiên bạn hãy vào menu Start, chọn Run, đánh lệnh "REGEDIT" sau đó đi theo khoá như phần 1 ở trên.
***: [H***_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\Curre ntVersion\Policies\Explorer]
Tiếp theo vào phần hộp thoại phía bên phải click chuột phải vào [Neww\DWORD value] bạn sẽ nhận được 1 Value name mới. Bạn hãy rename nó lại thành NoRecentDocsHistory, sau khi đã đặt tên bạn hãy click phải chuột vào nó và chọn [Modify], bạn hãy nhập số vào phần Valuedate, tiếp tục OK.
Bạn tiếp tục click chuột phải vào [New\String value] bạn sẽ nhận được 1 String name mới, rename nó thành Default, sau khi rename bạn hãy click phải chuột vào nó và chọn [Modify], bạn hãy nhập dòng "(value not set)" vào phần Valuedate, tiếp tục OK và thoát ra khởi động lại máy để thay đổi có hiệu lực.
Lưu ý: Bước thực hiện tạo String name mới thực sự không cần thiết nếu như bạn có 1 String như vậy ở cửa sổ.
3. ẩn Control Panel trên menu Start (Windows 9x và NT)
Thủ thuật này cho phép bạn dấu các Control Panel khỏi menu Start (giúp ích cho bạn trong việc đảm bảo an toàn máy tính khỏi sự táy máy của người lạ).
Ðầu tiên bạn hãy vào menu Start, chọn Run, đánh lệnh "REGEDIT" sau đó đi theo khoá như phần 1 ở trên.
***: [H***_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\Curre ntVersion\Policies\Explorer]
Tạo 1 giá trị DWORD mới (Hoặc sửa đổi giá trị hiện có) và đặt tên là 'NoControlPanel'.
Vẫn click chuột phải như ở phần trên để vào Modify và thiết lập ở Valuedate giá trị là 1. Bây giờ bạn hãy thoát ra và khởi động lại máy để thay đổi có hiệu lực.
Nếu như các bạn không thích sử dụng các ứng dụng trên tiếp thì hãy Delete các giá trị DWORD đó.
Kường™
11-07-2008, 08:29 AM
Giảm dung lượng tập tin
Trang Web của bạn cần tải nhanh hơn, hoặc bộ sưu tập ảnh số của bạn chiếm nhiều dung lượng đĩa cứng quá. Hãy sử dụng StripFile (http://www.nuetools.co.uk/stripfile.html) của Nuetools. Chương trìnhcó thể thu nhỏ các trang Web và các tập tin ảnh cho Web như: gif, jpeg, và png. Tuy nhiên, sự độc đáo và hấp dẫn của chương trình lại là chỉ loại bỏ đi các thông tin dư thừa như profile màu, chú thích... Bạn hãy lựa chọn "Settings" để lọc các dữ liệu mà bạn muốn loại bỏ, hoặc đơn giản hơn chỉ cần nhấn chuột phải vào thư mục, tập tin và nhấn Compress. Còn một cách khác nữa, hãy nhấn chuột phải vào thư mục, tập tin và chọn Strip để loại bỏ thông tin thừa. Bạn tự hỏi, nếu quá trình xử lý này bị lỗi, hoặc chất lượng không đảm bảo thì phải làm sao ? Bạn đừng lo, StripFile sẽ tạo ra thư mục sao lưu lại các thư mục, tập tin này khi bạn gặp trục trặc.
Còn về chất lượng ? Chất lượng còn tùy thuộc vào loại tập tin mà bạn nén, nhưng chương trình đảm bảo sẽ có thể giảm tới 50% dung lượng. Theo kiểm tra của chúng tôi, StripFile giảm dung lượng tập tin HTML là 7%, với tập tin JPEG là 6.3%. Sự thu nhỏ này xem ra chẳng có thay đổi mấy. Tuy nhiên, nếu bạn có một "lô" các tập tin như vậy thì con số đó thật có ý nghĩa, chúng sẽ giảm dung lượng đĩa cứng của bạn đáng kể đấy.
Công cụ quản lý tập tin
Để giữ cho các thư mục, cửa sổ chương trình của bạn luôn mở và lại được sắp xếp theo thứ tự thì thật là khó khăn. Nhưng với ExplorerXP (http://pcworld.com/downloads/file_description/0,fid,25874,00.asp) của Nikolay Avrionov. Chương trình cho phép bạn đặt tiêu đề hoặc sắp xếp các thư mục đang mở trong một cửa sổ khác. ExplorerXP cho phép bạn tùy biến thanh công cụ (toolbar), đổi tên nhiều tập tin đồng thời, khả năng kéo thả vào trong cửa sổ của Explorer. Thế còn yếu điểm của chương trình? Chương trình không cho xem trước, chỉ xem được duy nhất ở chế độ chi tiết, chế độ duyệt các ổ đĩa mạng chỉ ở mức đơn giản. Mặc dù vậy, ExplorerXP thực sự là một chương trình quản lý tập tin hay và lại miễn phí nữa. Tại sao bạn không thử sử dụng nhỉ ?
Chuyển đổi sang định dạng PDF
Rất nhiều chương trình có khả năng chuyển đổi bất cứ tài liệu nào sang dạng PDF (Portable Document Format) rất nhanh chóng. Tuy nhiên, một số chương trình này lại kèm theo quảng cáo, hoặc nhúng logo của chúng vào tập tin chuyển đổi. CutePDF Writer (http://www.cutepdf.com/) của Acro Software thì không như vậy.
Chương trình này thêm một biểu tượng máy in CutePDF vào trong hệ thống của bạn. Khi cần chuyển đổi sang định dạng PDF bạn chỉ cần chọn chức năng in trong các chương trình khác, và chọn đúng máy in CutePDF thay vì máy in thực của bạn, bạn sẽ có một tập tin PDF thật hoàn hảo. CutePDF Writer yêu càu bạn phải tải và cài đặt bộ thông dịch chuyển đổi ngôn ngữ máy in PostScript như GhostScript (có sẵn trên trang Web của CutePDF Writer). CutePDF Writer không thể có nhiều tính năng như Adobe Acrobat nhưng chương trình thật sự hữu dụng và hấp dẫn.
Các biểu tượng Mac
Đối với những người sử dụng "hâm mộ" giao diện và vẻ hào nhoáng mà Mac OS X đem lại, rất nhiều người sử dụng Window muốn thay đổi các thanh tác vụ và menu Start "nhàm chán" của Windows. Tiện ích ObjectDock utility (http://pcworld.com/downloads/file_description/0,fid,25932,00.asp) của StarDock có thể khởi động và chuyển đổi các ứng dụng, sử dụng các hiệu ứng hoạt hình như của Mac, phóng to các biểu tượng khi bạn trỏ chuột tới. Các tính năng như các thông tin dự báo thời tiết thì có thể bạn không cần lắm, nhưng chiếc đồng hồ của ObjectDock cung cấp, cùng với khung tìm kiếm Google dạng pop- up khá hấp dẫn. Nếu bạn muốn có thêm nhiều tính năng hơn hãy nâng cấp phiên bản miễn phí (giá nâng cấp 20 USD).
Tắt máy tự động
Nếu bạn để hệ thống của mình hoạt động liên tục, bạn có thể đặt lịch cho các công cụ như các chương trình quét vi rút và quét phần mềm gián điệp, sao lưu hệ thống, và nhiều hoạt động bảo trì cho PC khác. Nhưng bạn muốn tắt máy sau khi kết thúc ngày làm việc của mình? Hãy sử dụng LastChance (http://www.fileware.com/) của FileWare để thêm các ứng dụng và các lệnh mà bạn muốn thực thi trước khi Windows tự tắt. Khi bạn thoát khỏi Windows, LastChance sẽ ngắt toàn bộ các hoạt động của máy, chạy các lệnh mà bạn đã yêu cầu. Khi đã xử lý xong, chương trình sẽ tắt Windows. Bạn cũng có thể đặt các tiện ích sử dụng một số tài nguyên đặc biệt ( như ổ đĩa mạng). Bạn cũng có thể hẹn giờ trước khi tắt máy.
Dấu biểu tượng trong khay hệ thống
Các biểu tượng chương trình làm tràn khay hệ thống của bạn. Hãy tạo thêm nhiều không gian hơn nữa với Tray Pilot Lite (http://www.colorpilot.com/hidetray.html) của Two Pilot. Tray Pilot Lite sẽ thêm nút nhấn ngay cạnh khay hệ thống cho phép hiển thị hoặc dấu tất cả đồng hồ cùng với các biểu tượng. Chỉ với 16 USD cho, bạn có thể nâng cấp phiên bản miễn phí một số tính năng như dấu các biểu tượng nhưng vẫn có đồng hồ, hoặc sử dụng đồng hồ khác... Tiện ích này rất hữu dụng trong Windows 98 và Me. Windows XP có sẵn tính năng này, nhưng không cho phép dấu đồng hồ.
Chiếc đồng hồ hoàn hảo
Chiếc đồng hồ của Windows ( nằm ở khay hệ thống) nhỏ và chẳng làm được gì. Chiếc đồng hồ này cũng chẳng hiển thị giây, và cũng không có chức năng báo thức. Hãy thay thế chiếc đồng hồ "cổ" này bằng ClocX (http://pcworld.com/downloads/file_description/0,fid,25937,00.asp). ClocX cho phép bạn hẹn giờ, lên lịch làm việc. Chế độ hẹn giờ có thể phát lại âm thanh, hiển thị các lời nhắn, nạp các ứng dụng và thậm chí tắt cả Windows nữa. ClocX có thể hiện lịch dạng pop-up giúp kiểm tra ngày tháng, hoặc xem cả thời gian và ngày tháng ngay trong giao diện đồng hồ.
Kường™
11-07-2008, 09:30 AM
E-mail và Internet hiện nay được dùng như một phương tiện chính trong việc lan truyền vi-rút. Mười biện pháp dưới đây sẽ giúp các bạn bảo vệ được máy tính của mình:
1. Không mở bất kỳ file đính kèm được gởi từ một địa chỉ e-mail mà bạn không biết rõ hoặc không tin tưởng.
2. Không mở bất kỳ e-mail nào mà bạn cảm thấy nghi ngờ, thậm chí cả khi e-mail này được gởi từ bạn bè hoặc khách hàng của bạn. Hầu hết vi-rút được lan truyền qua đường e-mail. Do vậy, nếu bạn không chắc chắn về một e-mail nào thì hãy tìm cách xác nhận lại từ phía người gởi.
3. Không mở các file đính kèm các e-mail có tiêu đề hấp dẫn hoặc thu hút. Ví dụ như: “Look, my beautiful girl friend”, "Congratulations”, "SOS”... Nếu bạn muốn mở các file đính kèm này, hãy lưu chúng vào đĩa mềm hay một thư mục trên đĩa cứng và dùng chương trình diệt vi-rút được cập nhật mới nhất để kiểm tra.
4. Không mở các file đính kèm theo các e-mail có tên file liên quan đến sex hay các ngôi sao như “PORNO.EXE”, “PAMELA_NUDE.VBS”, “Britney Spears.scr”... Đây là các thủ đoạn dùng để đánh lừa người dùng của những kẻ viết vi-rút.
5. Xóa các e-mail không rõ hoặc không mong muốn. Đừng forward e-mail này cho bất kỳ ai hoặc reply lại cho người gởi. Những e-mail này thường là các spam e-mail. Mục đích của các spam e-mail chỉ để làm nghẽn đường truyền Internet.
6. Không copy vào đĩa cứng bất kỳ file nào mà bạn không biết rõ hoặc không tin tưởng về nguồn gốc xuất phát của nó.
7. Hãy cẩn thận khi tải các file từ Internet về đĩa cứng của máy tính. Dùng một chương trình diệt vi-rút được cập nhật thường xuyên để kiểm tra các file này. Nếu bạn nghi ngờ về một file chương trình hoặc một e-mail thì đừng bao giờ mở nó ra hoặc tải về máy tính của mình. Cách tốt nhất trong trường hợp này là xóa chúng hoặc không tải về máy tính của bạn.
8. Dùng một chương trình diệt vi-rút tin cậy và được cập nhật thường xuyên như Norton Antivirus, McAffee, Trend Micro... Dùng các chương trình diệt vi-rút có thể chạy thường trú trong bộ nhớ để chúng có thể giám sát thường xuyên các hoạt động trên máy tính của bạn.
9. Nếu máy tính bạn có cài chương trình diệt vi-rút, hãy cập nhật chúng thường xuyên. Trung bình mỗi tháng có tới 500 vi-rút mới được phát hiện. Việc cập nhật thường xuyên này sẽ giúp cho máy tính của bạn trở nên miễn nhiễm trước các loại vi-rút mới.
10. Thực hiện việc sao lưu các dữ liệu quan trọng thường xuyên. Nếu chẳng may vi-rút xóa tất cả các dữ liệu trên máy tính của bạn thì vẫn còn có khả năng phục hồi các dữ liệu quan trọng này. Các bản sao lưu này nên được cất giữ tại một vị trí riêng biệt hoặc cất giữ trên máy tính khác.
Kường™
11-07-2008, 10:54 AM
Chuyển sang dùng Windows XP (XP) từ Windows 95/98 (Win9x) cũng giống như chuyển sang dùng Windows 95 từ Windows 3.1 năm năm trước đây. XP được xây dựng trên nền tảng của Windows NT và 2000 vốn có độ ổn định cao hơn nhiều so với Win9x. Ngoài ra, XP cũng sử dụng hệ thống file gống như của NT và 2000. Điều này khiến cho XP trở thành một hệ điều hành (HĐH) đa người dùng thực sự cho PC gia đình. Vì XP là một HĐH còn khá mới mẻ, cho nên bài viết này cố gắng đưa ra một số thủ thuật nhằm giúp người dùng thông thường tận dụng một
cách tốt nhất khả năng của HĐH này.
Thủ thuật 1: HÃY DÙNG HỆ THỐNG FILE NTFS
Thật may mắn, XP hỗ trợ cả 2 hệ thống file FAT32 (được Win9x hỗ trợ) và NTFS (được NT và 2000 hỗ trợ). Điều này cho phép người dùng lựa chọn hệ thống file phù hợp với yêu cầu công việc của mình. Tuy nhiên NTFS cung cấp những mức độ bảo mật tốt hơn nhiều so với FAT32. Với FAT32 trong Win9x, ai cũng có thể xâm nhập vào PC của bạn và làm bất cứ điều gì mà họ thích. Với NTFS, bạn có quyền cho hay không cho ai đó sử dụng máy tính của bạn. Và người được phép sử dụng PC của bạn cũng chỉ có thể hoạt động trong khuôn khổ mà bạn cho phép.
Để kiểm tra xem bạn đang dùng NTFS hay FAT32, chọn ổ đĩa cứng trong My Computer, nhấn chuột phải và chọn Properties. Nếu đang dùng FAT và muốn chuyển sang dùng NTFS, bạn hãy thực hiện việc chuyển đổi này từ dấu nhắc DOS trong XP mà không phải lo ngại gì về việc mất mát dữ liệu. Để chuyển đổi sang NTFS từ FAT, bạn chọn Start – All Programs - Accessories, and Command Prompt. Tại dấu nhắc, bạn gõ convert x: /fs:ntfs (x là tên ổ đĩa mà bạn chọn). Cũng cần lưu ý rằng, một khi đã chuyển sang NTFS, bạn sẽ không thể quay trở lại dùng FAT trừ phi bạn định dạng (format) lại ổ đĩa
Thủ thuật 2: TẠO TÀI KHOẢN HẠN CHẾ
Có 2 loại tài khoản người dùng (user account) trong XP: tài khoản người quản trị hệ thống (administrator account) và tài khoản người dùng hạn chế (limited account). Sau khi cài đặt XP thành công, bạn nên ngay lập tức thiết đặt một tài khoản người dùng hạn chế để phục vụ cho các công việc hàng ngày nếu như bạn đang dùng hệ thống file NTFS.
Để tạo một tài khoản người dùng hạn chế, bạn phải đăng nhập vào tài khoản của người quản trị hệ thống (theo ngầm định XP tạo ra tài khoản này khi bạn cài đặt HĐH). Sau đó, chọn Start - Control Panel - User Accounts - Create A New Account. Đặt tên cho tài khoản mới này rồi nhấn Next. Trong hộp thoại mới, chọn Limited Account. Mỗi khi muốn tạo mới hay thay đổi thuộc tính của các tài khoản, bạn nhất quyết phải đăng nhập vào tài khoản người quản trị hệ thống.
Thủ thuật 3: SỬ DỤNG MẬT KHẨU
Sử dụng mật khẩu (password) là một hình thức bảo mật thông tin truyền thống và hiệu quả. Mặc dù Win9x có cung cấp cho bạn chế độ bảo vệ bằng mật khẩu, nhưng đối với đa số người dùng thì tính năng này không có một chút hiệu quả nào. Còn XP làm cho việc sử dụng mật khẩu thể hiện đúng ý nghĩa của nó.
Trong XP, việc bảo vệ các tài khoản bằng mật khẩu không có tính bắt buộc. Tuy nhiên, theo tôi, bạn nên sử dụng mật khẩu với các tài khoản, ít nhất là với tài khoản người quản trị hệ thống.
Theo ngầm định, XP coi tất cả các tài khoản người dùng tạo ra khi cài đặt HĐH là tài khoản người quản trị hệ thống và không yêu cầu mật khẩu khi người dùng đăng nhập vào hệ thống. Để thay đổi điều này, bạn cần phải tạo mật khẩu mới. Trong User Accounts, chọn Change An Account và nhấn vào tài khoản bạn muốn dùng mật khẩu để bảo vệ. Trong tài khoản này, chọn Create A Password và gõ mật khẩu 2 lần. Để việc sử dụng mật khẩu có hiệu quả hơn, theo chúng tôi bạn không nên dùng chế độ “gợi nhắc mật khẩu” (password hint) vì người dùng khác có thể căn cứ vào những gì bạn ghi ở đây để đoán ra mật khẩu của bạn. Sau khi nhấn nút Create Password, XP sẽ hỏi xem bạn có muốn để cho người dùng khác tiếp cận các thư mục và các file trong tài khoản của bạn hay không. Nếu muốn riêng tư hơn nữa, bạn hãy trả lời “KHÔNG” với câu hỏi nêu trên.
Thủ thuật 4: DỰNG TƯỜNG LỬA
Khác với các phiên bản trước, XP có kèm theo một chương trình tường lửa (Firewall) để bảo vệ bạn an toàn khi duyệt Web. Bức tường lửa này dường như là đáng tin cậy, bởi vì cho tới nay chưa thấy có người sử dụng nào phàn nàn về tính năng mới mẻ này trong XP
Có lẽ bạn đã từng tự hỏi: làm sao biết được bức tường đó đã được dựng lên chưa? Để kểm tra, bạn vào Control Panel - nhấn chuột phải vào biểu tượng Network Connections - chọn Properties - nhãn Advanced, và chọn Internet Connection Firewall.
Thủ thuật 5: CHẠY CHƯƠNG TRÌNH BẰNG QUYỀN CỦA NGƯỜI QUẢN TRỊ HỆ THỐNG
XP có chế độ Fast User Switching, chế độ cho phép người dùng chuyển đổi qua lại giữa các tài khoản mà không phải thoát ra và đóng các ứng dụng đang chạy. Để chế độ này hoạt động, bạn mở User Accounts và chọn Change The Way Users Log On Or Off. Trong hộp thoại mới bạn chọn cả Use The Welcome Screen và Use Fast User Switching.
Để chuyển đổi qua lại giữa các tài khoản người dùng, bạn chọn Start – Log Off - Switch User. Để chạy một chương trình với quyền của người quản trị hệ thống, bạn nhấn chuột phải vào biểu tượng của chương trình rồi chọn Run As. Trong hộp thoại mới, chọn tên của tài khoản quản trị hệ thống và nhập mật khẩu, và chương trình sẽ khởi động ngay lập tức. Bạn cũng cần lưu ý, có một số chương trình đòi hỏi bạn nhấn thêm phím Shift cùng với chuột phải.
Thủ thuật 6: CÁ NHÂN HOÁ THỰC ĐƠN START
So với các phiên bản trước, XP cung cấp nhiều khả năng thay đổi thực đơn Start hơn. Bạn có thể thêm, bớt hay thay đổi theo ý mình bất cứ thành phần nào của thực đơn Start. Để làm điều này, bạn nhấn chuột phải vào thực đơn Start và chọn Properties. Trong hộp thoại Task Bar and Start Menu Properties, nhấn nút Customize. Tại đây, bạn có thể lựa chọn dùng biểu tượng to hay nhỏ, cho phép hiển thị bao nhiêu chương trình vừa chạy, và đưa chương trình duyệt Web cùng chương trình e-mail ưa thích vào thực đơn Start. Trong nhãn Advanced bạn có thể chọn cách mà những thành phần như My Documents, My Computer, và Control Panel vv... xuất hiện cũng như nhiều tuỳ chọn khác mà bạn không thể có được ở các phiên bản Windows trước đây.
Nếu như không thích cách mà thực đơn Start của XP xuất hiện, bạn có thể quay trở về với thực đơn truyền thống bằng cách chọn Classic Start Menu trong hộp thoại Task Bar and Start Menu Properties.
Thủ thuật 7: SỬ DỤNG TÍNH NĂNG KHÔI PHỤC HỆ THỐNG
Giống như Windows ME, XP cũng cung cấp khả năng khôi phục hệ thống về điểm trước một sự kiện này đó (cài đặt mới phần mềm hoặc xung đột hệ thống...) Để tạo một mốc khôi phục, bạn mở (All) Programs trong thực đơn Start, chọn Accessories - System Tools - System Restore. Trong cửa sổ System Restore, nhấn Create A Restore Point, nhấn Next, nhập tên cho điểm khôi phục hệ thống, rồi nhấn Create. Để đưa hệ thống trở lại một thời điểm nào đó, trong cửa sổ System Restore, chọn Restore My Computer To An Earlier Time, rồi chọn một điểm phù hợp để tiến hành khôi phục hệ thống. Sau khi nhấn Next 2 lần, hệ thống của bạn sẽ bắt dầu khôi phục về thời điểm bạn chọn. Quá trình này chỉ hoàn tất sau khi HĐH tự khởi động lại.
Kường™
11-07-2008, 10:55 AM
Thủ thuật 8: KHÔNG CẦN CHỈNH LẠI ĐỒNG HỒ
Người dùng PC thường phàn nàn về việc đồng hồ hệ thống chạy sai sau một khoảng thời gian nào đó, và phải chỉnh sửa lại thời gian cho đúng một cách thủ công. Điều này sẽ không thể xảy ra trong XP nếu bạn thực hiện các bước sau để đồng bộ hoá đồng hồ hệ thống với đồng hộ quốc tế (với điều kiện bạn có kết nối Internet).
Bạn đăng nhập vào tài khoản quản trị hệ thống, kết nối Internet, rồi nhấn đúp vào biểu tượng đồng hồ trên thanh công cụ. Chọn nhãn Internet Time trong hộp thoại Date and Time Properties. Đánh dấu kiểm vào Automatically Synchronize With An Internet Time Server và chọn một đồng hồ thích hợp từ thực đơn thả xuống, rồi nhấn nút Update Now.
Thủ thuật 9: KIỂM TRA TÍNH TƯƠNG THÍCH
Không phải chương trình nào cũng chạy tốt trong XP. Nếu không rõ về tính tương thích, bạn hãy thử dùng Program Compatibility Wizard. Chọn Start - All Programs – Accessories - Program Compatibility Wizard.
XP cung cấp cho bạn nhiều khả năng để thử tính tương thích của chương trình. Nếu chương chình chạy tốt ở một điều kiện nào đó, XP sẽ gợi ý bạn dùng các thiết đặt phù hợp nhất để chạy chương trình. Tất nhiên, XP cũng cho bạn biết liệu chương trình có hoạt động cùng HĐH không.
Thủ thuật 10: TẠO ĐĨA MỀM KHỞI ĐỘNG CHO XP
Tạo một đĩa khởi động trong Win9x không hề khó khăn chút nào. Nhưng Microsoft đã loại bỏ tính năng này trong Win 2000 và XP. Bạn cần có một đĩa mềm khởi động để khôi phục lại hệ thống trong các trường hợp như hỏng rãnh khởi động (boot sector), hỏng bảng ghi khởi động chính (Master Boot Record), bị nhiễm virus, mất hoặc hỏng file NTLDR, NTDETECT.COM, hoặc để khởi động trong trường hợp XP không thể khởi động được cả ở chế độ Safe Mode.
Để tạo đĩa mềm khởi động trong XP (và Win2000), bạn làm như sau: Chuẩn bị một đĩa mềm đã được định dạng. Chuyển tới ổ đĩa C:\, chép các file sau boot.ini, ntldr, ntdetect.com, bootsect.dos, NTBOOTDD.SYS (nếu có) sang đĩa mềm.
Thủ thuật 11: THIẾT ĐẶT LẠI BỘ NHỚ ẢO
Cho dù bạn có bao nhiêu RAM đi nữa thì Windows vẫn tạo ra thêm bộ nhớ ảo (paging files) trên đĩa cứng để tối ưu hóa hoạt động của hệ thống. Tối ưu hóa các file paging bằng cách cố định dung lượng sẽ làm cho tốc độ tìm dữ liệu trên đĩa cứng nhanh hơn, HĐH cũng không phải đặt lại dung lượng bộ nhớ ảo, giảm thiểu quá trình phân mảnh, và tiết kiệm được đĩa cứng.
Để biết bạn cần dành bao nhiên megabyte cho bộ nhớ ảo, bạn hãy chạy một số chương trình thường dùng, rồi mở Task Manager (nhấn Ctrl – Alt – Del), nhấn vào nhãn Performance, và xem số megabyte ở khung Commit Charge là bao nhiêu. Đây là số lượng bộ nhớ mà hệ thống của bạn cần lúc này. Dung lượng bộ nhớ ảo tối thiểu sẽ là số megabyte này cộng thêm với 32 MB (nhưng nhiều người cộng thêm với 64 MB). Thiết đặt hợp lý nhất là dung lượng tối thiểu và tối đa của bộ nhớ ảo phải bằng nhau để XP không đặt lại dung lượng bộ nhớ này nữa.
Để thực hiện việc đặt lại dung lượng bộ nhớ ảo, bạn nhấn chuột phải vào My Computer, chọn Properties – nhãn Advanced - nhấn vào Settings của khung Performance - chọn Advanced trong hộp thoại Performance Options. Bạn nhấn tiếp vào nút Change - chọn ổ đĩa thích hợp - nhập dung lượng bộ nhớ ảo tối thiểu và tối đa, rồi nhất Set. Bạn lặp lại các bước nêu trên với các ổ đĩa
còn lại và các thay đổi sẽ có hiệu lực sau khi hệ thống khới động lại.
Thủ thuật 12: SỬ DỤNG SYSTEM CONFIGURATION UTILITY
Nếu bạn không muốn một chương trình nào đó khởi động cùng với XP, muốn tăng tốc độ khởi động của HĐH, muốn loại bỏ những dịch vụ hệ thống không cần thiết, muốn tìm hiểu những trục trặc của hệ thống... và nhiều điều khác, thì bạn hãy sử dụng tiện ích System Configuration.
Nếu đã sử dụng Win 98 và khai thác tính năng System Configuration Utility thì bạn có thể băn khoăn tại sao XP lại không có tính năng tuyệt vời này. Câu trả lời là XP có nhưng Microsoft không để tiện ích này trong System Information vì không muốn người sử dụng can thiệp quá sâu vào hệ thống.
Muốn khởi động System Configuration Utility, bạn chọn Start – Run – gõ “mscomfig” hoặc chọn Start - Help and Support - chọn Use Tools to view your computer information and diagnose problems trong cửa sổ mới. - dưới hộp Tools, chọn System Configuration Utility.
Thủ thuật 13: SỬ DỤNG TỪ ĐIỂN THUẬT NGỮ CỦA WINDOWS
Nếu bạn không hiểu bản chất một thuật ngữ chuyên ngành nào đó, và bạn không tìm thấy hoặc không thỏa mãn với giải thích của các từ điển khác, thì từ điển thuật ngữ của XP (Windows Glossary) có thể làm bạn hài lòng.
Để sử dụng từ điển, bạn chọn Start – Help and Support – nhấn vào bất kỳ một chủ đề nào dưới Pick A Help Topic – Windows Glossary - gõ thuật ngữ cần được giải thích vào hộp Search. Bạn cũng có thể chọn Start – Help and Support – gõ thuật ngữ cần được giải thích vào hộp Search và XP sẽ liệt kê một số thành phần liên quan tới thuật ngữ đó, bao gồm cả từ điển (Glossary).
Thủ thuật 14: LOẠI BỎ MSN MESSENGER
Rất nhiều người sử dụng XP không dùng và cũng không thích dịch vụ MSN Messenger. Rất tiếc Microsoft lại không nghĩ vậy, và thậm chí còn không cung cấp cách gỡ cài đặt chương trình này, Tuy nhiên, vẫn có cách để không phải khó chịu với MSN Messenger. Bạn làm như sau: Tìm tới file SYSOC.INF trong thư mục Windows\INF (chú ý: cả file và thư mục đều ở chế độ Hidden). Mở file này bằng Notepad, tìm tới dòng msmsgs=msgrocm.dll,OcEntry,msmsgs.inf,hide,7 và xóa chữ “hide” đi. Lưu file và khởi động lại PC, rồi tìm tới Control Panels - Add and Remove Programs – Add/Remove Windows Components. Lúc này tùy chọn cho phép gỡ cài đặt MSN Messenger đã xuất hiện.
Nếu cách trên hơi rắc rối và đang sử dụng bản XP Professional, thì bạn hãy làm theo cách sau: chọn Start – Run – gõ GPEDIT.MSC để mở Group Policy - chọn Computer Configuration - Administrative Templates - Windows Components - Windows Messenger. Tại đây, bạn có thể ngăn dịch vụ này hoạt động hoặc lựa chọn cho phép nó hoạt động theo yêu cầu của bạn. Theo cách này, bạn cần lưu ý, mặc dù dịch vụ đã bị vô hiệu hóa, nhưng một số chương trình khác của Microsoft (Outlook, Outlook Express) vẫn có thể khiến dịch vụ hoạt động.
Thủ thuật 15: TĂNG TỐC CHO XP
Mở Registry Start – Run – gõ regedit và tìm tới khóa
H***_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\Curr entVersion\Explorer\RemoteComputer\NameSpace
Chọn nhánh {D6277990-4C6A-11CF-8D87-00AA0060F5BF} và xóa nó đi. Tuy nhiên, trước khi xóa nhánh này bạn nên sao lưu lại phòng trường hợp hệ thống có vấn đề. Để làm việc này, bạn nhấn chuột phải vào nhánh cần sao lưu, và chọn Copy *** Name rồi lưu vào một file văn bản.
Khóa trên đòi hỏi XP phải tìm kiếm tất cả các chương trình làm việc theo lịch (Scheduled Tasks). Điều này khiến cho tốc độ duyệt của XP bị chậm lại. Mặc dù thủ thuật trên nhằm tăng tốc độ duyệt cho các hệ thống chạy Win2000 và XP trong mạng LAN, nhưng nó cũng cải thiện tốc độ duyệt một các bất ngờ cho Windows ngay trên máy trạm. Thay đổi này có tác dụng tức thì và chúng ta có thể cảm nhận được sự cải thiện tốc độ ngay lập tức.
Kường™
11-07-2008, 11:47 AM
Việc bảo mật tuyệt đối một thư mục hoặc một tệp là một nhu cầu bức thiết của nhiều người dùng máy tính, đặc biệt với những người dùng chung một máy tính. Mặc dù trong hệ điều hành DOS, trong hệ điều hành Windows và đặc biệt là trong hệ điều hành mạng đã có những thủ tục cài đặt mật khẩu, cài đặt thuộc tính ẩn (H), thuộc tính chỉ đọc (R) vv... Nhưng đó chỉ là những bảo mật cục bộ và mức bảo mật không cao. Các thư mục hoặc các tệp bảo mật được ở chỗ này nhưng không bảo mật được ở chỗ khác. Có các thư mục và tệp được Windows bảo vệ chống xoá nhưng lại xoá được dễ dàng trong DOS...
Vậy có cách nào bảo mật được thư mục một cách tuyệt đối không ? Có. Bạn phải tự làm lấy vì chưa có một chương trình nào giúp bạn làm điều này. Phương án để bảo mật tuyệt đối một thư mục mà chúng tôi đã lựa chọn và dùng rất có hiệu quả là đánh lạc hướng địa chỉ lưu trú của thư mục trên đĩa, làm cô lập các cluster mà thư mục đã chiếm giữ, do đó không thể can thiệp được vào thư mục này bằng bất kì cách nào. Vậy làm thế nào để đánh lạc hướng địa chỉ lưu trú thật của thư mục ?.
Để làm được điều này bạn cần biết rằng FAT là một bảng định vị file (File Allocation Table). Bảng này gồm nhiều phần tử. Đĩa có bao nhiêu cluster thì FAT cũng có bấy nhiêu phần tử (Cluster là một liên cung gồm nhiều sector nhóm lại). Phần tử thứ n của FAT tương ứng với cluster thứ n trên đĩa. Một file chiếm bao nhiêu cluster trên đĩa thì đề mục FAT của nó cũng có bấy nhiêu phần tử. Phần tử FAT này chứa số thứ tự của một phần tử FAT khác. Phần tử chứa FF FF là mã kết thúc file <EOF>. Như vậy một đề mục FAT của một File sẽ chứa số thứ tự của các cluster mà file chiếm giữ. Đề mục FAT của một thư mục chỉ có một phần tử chứa mã <EOF>. Số thứ tự của phần tử này ứng với số thứ tự của cluster chứa đề mục của các thư mục con và của các tệp có trong thư mục đó. Mỗi phần tử FAT chiếm 2 bytes với FAT 16 bit và chiếm 4 bytes với FAT 32 bit.
Mỗi đề mục của thư mục hoặc của tệp trong bảng thư mục gốc (Root Directory) đều chiếm 32 bytes, phân thành 8 trường như sau: Trường 1 chứa 8 byte tên chính, trường 2 chứa 3 byte phần tên mở rộng, trường 3 là 1 byte thuộc tính, trường 4 chiếm 10 byte (DOS không dùng và dành riêng cho Windows), trường 5 chiếm 2 byte về ngày tháng tạo lập, trường 6 chiếm 2 byte về giờ phút giây tạo lập, trường 7 gọi là trường Cluster chiếm 2 byte chứa số thứ tự của phần tử FAT đầu tiên của mỗi đề mục FAT, trường 8 chiếm 4 byte về dung lượng.
Khi truy cập một thư mục hay một tệp, trước tiên máy đọc 8 trường nói trên trong bảng thư mục, sau đó nhờ đọc được thông tin ở trường cluster mà máy chuyển đến đọc cluster đầu tiên của tệp đồng thời chuyển đến đọc phần tử FAT đầu tiên của đề mục FAT rồi đọc tiếp các phần tử FAT khác trong đề mục để biết số thứ tự của các cluster tiếp theo và truy cập tiếp các cluster này cho đến khi gặp mã FF FF đó là mã kết thúc file <EOF> trong đề mục FAT thì dừng.
Như vậy muốn bảo mật thư mục hoặc tệp nào đó ta phải thay đổi nội dung của trường thứ 7 trong đề mục ROOT để nó không trỏ vào địa chỉ thật của thư mục hoặc của tệp mà trỏ vào một phần tử rỗng nằm ở cuối của FAT (khi đĩa chưa đầy thì phần tử này bao giờ cũng rỗng, tương ứng với cluster rỗng trên đĩa). Đồng thời để trình SCANDISK không phát hiện ra sự thất lạc cluster ta cần phải ghi vào phần tử FAT cuối cùng này giá trị thật của cluster mà thư mục chiếm giữ.
Các thao tác cần thiết để bảo mật thư mục như sau :
1 - Tạo một thư mục BAOMAT ở thư mục gốc và chép tất cả các tệp cần bảo mật vào đó.
2 - Đọc số thứ tự của phần tử FAT cuối cùng (cũng là số thứ tự của cluster có nghĩa cuối cùng của đĩa):
Chạy chương trình Diskedit trong thư mục NC sau đó gõ ALT+C để làm hiện ra cửa sổ Select Cluster Range. Giả sử trong cửa sổ này bạn nhận được thông tin "Valid Cluster numbers are 2 through 33,196". điều này có nghĩa là số thứ tự của Cluster có nghiã cuối cùng của đĩa là 33.196, đó cũng là số thứ tự của phần tử có nghĩa cuối cùng của FAT. Đọc xong thì gõ ESC .
3 - Tìm đề mục của thư mục cần bảo mật trong bảng Root Directory để ghi giá trị vừa đọc được ở bước 2 vào trường Cluster của đề mục ấy như sau:
Chạy Diskedit và gõ ALT+R, dịch con trỏ lên thư mục gốc và ấn Enter để mở bảng thư mục gốc. Rà bảng thư mục từ trên xuống và dừng lại ở đề mục cần bảo mật. Dịch chuyển con trỏ tới cột Cluster của đề mục này, ghi lại giá trị cũ vào giấy và nhập vào đó giá trị mới (với ví dụ trên là 33196). Nhập xong thì dịch con trỏ xuống dưới rồi gõ CTRL+W, chọn nút Write trong cửa sổ Write changes để ghi vào đĩa.
4 - Ghi giá trị cũ đã ghi nhớ trên giấy vào phần tử cuối của FAT bằng cách chạy chương trình Diskedit, gõ ALT+S làm hiện lên cửa sổ Select Sector Range, với mục Sector Usage bạn sẽ nhìn thấy vùng FAT 1 và vùng FAT 2 chiếm từ sector nào đến sector nào. Chẳng hạn bạn được thông tin sau: 1-130 1st FAT area, 131-260 2nd FAT area, có nghĩa là phần tử cuối cùng của FAT 1 nằm ở sector 130 và của FAT 2 là sector 260. Bạn hãy gõ vào hộp Starting Sector:[...] số thứ tự của Sector cuối cùng của FAT 1 (với ví dụ trên là 130) và ấn Enter để mở cửa sổ Disk Editor, dịch chuyển con trỏ đến cluster cuối cùng có nghiã của FAT 1 (vừa dịch con trỏ vừa quan sát chỉ thị số cluster ở thanh trạng thái và dừng lại ở cluster có nghĩa cuối cùng với ví dụ trên là 33196). Nhập vào đó giá trị đã ghi nhớ trên giấy ở bước 3 . Cuối cùng gõ Ctrl+W, đánh dấu vào mục Synchronize FATs và chọn Write để ghi vào 2 FAT của đĩa.
Chú ý:
* Khi cần truy cập thư mục này bạn chỉ cần nạp lại giá trị cũ cho trường Cluster của đề mục Root mà không cần xoá bỏ giá trị đã ghi ở cuối FAT.
* Vì hệ điều hành Windows có chế độ bảo vệ vùng đĩa hệ thống nên muốn thực hiện các thao tác trên bạn phải khởi động máy ở hệ điều hành DOS.
* Cần bỏ chế độ bảo mật này trước khi thực hiện chống phân mảnh (Defrag).
Kường™
11-07-2008, 01:27 PM
Có nhiều loại thiết bị lưu trữ khác nhau như đĩa mềm, CD, DVD, thẻ nhớ hay USB flash driver... Tuy nhiên, đối với máy tính quan trọng hàng đầu vẫn là ổ đĩa cứng HDD. Càng ngày ổ đĩa cứng có dung lượng càng lớn và giá cả thì có xu hướng rẻ đi.
Cách đây chừng 5 năm phổ biến là các loại ổ đĩa có dung lượng từ 1,2 GB đến tối đa là 10 GB. Bây giờ ổ đĩa cứng có dung lượng 40 GB, 80 GB, thậm chí hàng trăm GB.
Tuy nhiên, cái vô giá chính là dữ liệu chứa trong đĩa cứng. Một ngày không đẹp trời nào đó ổ đĩa bất thình lình "đột tử" trong khi chưa kịp sao lưu dữ liệu thì thật là tai họa. Chính vì vậy, hãy quan tâm đến sức khỏe của thiết bị lưu trữ hết sức quan trọng này để kịp thời ứng phó.
Một chuẩn mực rất quan trọng bắt buộc các nhà sản xuất phải tích hợp trong đĩa cứng để đem lại niềm tin cho người tiêu dùng là S.M.A.R.T (Self-Monitoring Analysis and Reporting Technology - Kỹ thuật tự kiểm tra, phân tích và báo cáo các trục trặc). Khi phát hiện ra các dấu hiệu hư hỏng gần ngưỡng quy định có thể làm ổ đĩa cứng ngừng hoạt động, tính năng này sẽ đưa ra các cảnh báo cho người dùng. S.M.A.R.T được phát triển dựa trên kỹ thuật Predictive Failure Analysis - PFA (phân tích sự cố dự báo trước) của hãng IBM ứng dụng cho các Mainframe Computer (máy tính cỡ lớn dùng trong quân sự và công nghiệp). Còn công ty đầu tiên nghiên cứu kỹ thuật này cho máy tính để bàn là Compaq với tên gọi Drive Failure Prediction (dự báo trước các sự cố cho ổ đĩa). Bạn nên biết hãng IBM đã thử nghiệm trên 3 triệu ổ đĩa cứng khác nhau để có thể đưa ra các chuẩn cho S.M.A.R.T.
Nếu đã kích hoạt tính năng S.M.A.R.T trong mainboard từ BIOS setup, nếu ổ đĩa cứng chuẩn bị hỏng, chúng ta có thể nhận được thông báo có nội dung "HDD Bad, Backup and Replace".
Kỹ thuật S.M.A.R.T
Gồm khoảng 35 đặc tính khác nhau, giúp dò tìm khoảng 70% lỗi trong ổ đĩa cứng. Báo cáo cho người dùng biết thông qua màn hình BIOS hoặc thông qua một phần mềm chẩn đoán. Mỗi hãng sản xuất đĩa tích hợp vào sản phẩm của mình những đặc tính có thể khác nhau. Nhưng mục tiêu cuối cùng là phải dự báo trước được những sự cố nguy hiểm có thể xảy ra, dự đoán gần chính xác thời gian xảy ra để người dùng kịp thời sao lưu dữ liệu dự phòng. Một số đặc tính các hãng sản xuất đĩa cứng thường tích hợp trong kỹ thuật S.M.A.R.T là: ghi nhận nhiệt độ của đĩa cứng, khả năng quay của đĩa cứng, tỷ lệ lỗi thô đã xảy ra, đếm số lần khởi động và tắt máy...
Các phần mềm chẩn đoán
- HDD Health V 2.1: Của tác giả Aleksey S Cherkasskiy, dung lượng 879KB, tham khảo thêm và tải về từ địa chỉ www.panterasoft.com (http://www.panterasoft.com/). Phần mềm này phân tích được 15 đặc tính kỹ thuật. Quan trọng nhất là khi bạn bấm vào thẻ Health, nếu khung Known Problems ghi: "There are no problems with this hard drive" là tương đối yên tâm. Nếu thêm khung Overall health status cũng như khung Nearest T.E.C đều ký hiệu N/A thì chắc chắn ổ đĩa cứng của bạn còn rất tốt, không phải lo lắng gì.
- D-Temp: Dung lượng khá bé 144KB, miễn phí, không cần cài đặt chỉ kích chuột là nó chạy với một biểu tượng trên khay hệ thống có ghi nhiệt độ hiện thời của đĩa cứng. Tải về từ địa chỉ http://private.peterlink.ru/tochinov/download.html (http://private.peterlink.ru/tochinov/download.html) .
- HDD Thermometer: Giám sát nhiệt độ ổ đĩa cứng, dung lượng 213 KB là một Free Software nhưng không hoàn toàn miễn phí, nó bắt chúng ta phải đăng ký để sử dụng nhưng không phải trả tiền. Nếu chưa đăng ký, mỗi lần chạy chương trình là một lần gặp Nag screen nhắc nhở phải đăng ký (Nag: mè nheo, càu nhàu). Độ tin cậy khi giám sát nhiệt độ khá cao. Chương trình này cũng hiển thị nhiệt độ ổ đĩa cứng trên khay hệ thống. Tác giả Georgy Koychev, tải về từ địa chỉ www.rsdsoft.com (http://www.rsdsoft.com/) .
Kường™
11-07-2008, 01:28 PM
Bo mạch chủ là bộ phận rất quan trọng trong PC. Nếu bạn có một bo mạch chủ chất lượng tồi thì máy tính của bạn sẽ thường xuyên gặp trục trặc và thật "mệt mỏi" để tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục lỗi.
Do đó, chọn lựa được một bo mạch chủ chất lượng tốt phù hợp với túi tiền mà đem lại hiệu quả cao, đáp ứng được yêu cầu nâng cấp sau này là rất khó khăn. Chính vì vậy, VietNamNet chia sẻ bí quyết giúp bạn lựa chọn được bo mạch chủ chất lượng tốt mà lại phù hợp.
Trước hết, khi lựa chọn một bo mạch chủ bạn cần phải chú ý tới những thành phần sau:
Chipset
Tại sao khi lựa chọn bo mạch chủ lại phải chú ý tới chipset đầu tiên? Bởi vì chipset trong bo mạch chủ giữ chức năng rất quan trọng. Chipset đưa dữ liệu từ đĩa cứng qua bộ nhớ rồi tới CPU, và đảm bảo các thiết bị ngoại vi và các card mở rộng đều có thể thể "nói chuyện" được với CPU và các thiết bị khác. Các nhà sản xuất bo mạch chủ còn đưa thêm các tính năng khác vào chipset như điều khiển RAID, cổng FireWire vào mỗi sê-ri bo mạch khác.
Không những thế, chipset không chỉ giới hạn kiểu, tốc độ của CPU mà bo mạch có thể "tải" được, loại bộ nhớ mà bạn có thể lắp đặt mà còn thêm vào các chức năng khác như tích hợp đồ họa, âm thanh, cổng USB 2.0. Các bo mạch chủ được thiết kế cho cùng loại chipset thì nói chung đều có các tính năng, hiệu năng tương tự nhau. Chính vì vậy, Chipset là yếu tố quan trọng khi bạn mua bo mạch chủ.
CPU
Bo mạch chủ của bạn hỗ trợ bộ xử lý nào? Hiện nay, Pentium 4 của Intel và Athlon của AMD là hai xu hướng lựa chọn CPU khác nhau. Chuẩn khe cắm (socket) cho các bộ xử lý của AMD và Intel khác nhau nên bạn không thể cắm bộ xử lý của hãng này vào bo mạch chủ hỗ trợ bộ xử lý của hãng kia. AMD hiện nay sử dụng khe cắm 939 và 754, còn CPU của Intel sử dụng khe cắm 775 và 478. Không những thế các bộ xử lý của cùng hãng cũng sử dụng khe cắm khác nhau nên trong nhiều trường hợp bạn cũng không thể nâng cấp được. Một yếu tố nữa là khả năng hỗ trợ tốc độ CPU tối đa mà bo mạch chủ có thể đáp ứng. Bạn cần phải hỏi kĩ người bán hàng, loại bo mạch chủ này hỗ trợ tốc độ CPU như thế nào bởi đôi khi các nhà sản xuất bo mạch chủ thường ghi là hỗ trợ CPU tốc độ cao như thế này nhưng không bao giờ hỗ trợ được tốc độ đó. Ví dụ: Bo mạch chủ ghi rõ hỗ trợ tốc độ CPU tới 2.5 GHz, nhưng thực tế bo mạch chủ đó hỗ trợ tối đa chỉ 2.0 GHz.
Gần đây, công nghệ bộ xử lý đang phát triển mạnh xu hướng: bộ xử lý 64 bit và bộ xử lý đa nhân. Các bộ xử lý cao cấp này có giá rất cao và đặc biệt hầu hết các phần mềm trên thị trường chưa có khả năng hỗ trợ những tính năng này, nên hiệu quả mà các bộ xử lý này đem lại chưa cao. Do đó, nếu bạn không phải là dân "ghiền" công nghệ cao, gamer chuyên nghiệp, hay chuyên gia đồ họa thì bạn chỉ cần sử dụng Pentium 4 hay Athlon là đủ.
RAM (Ramdom Access Memory)
Đa số các bo mạch chủ hiện nay đều hỗ trợ DDR RAM (Double Data Rate RAM), RDRAM (Rambus RAM) không được dùng phổ biến vì có giá cao. Ngoài ra, trên thị trường còn xuất hiện DDR 2 cho tốc độ cao gần như RDRAM nhưng lại có giá rẻ như DDR. DDR RAM có các tốc độ 200/266/333/400 còn DDR 2 hỗ trợ tốc độ 400/533/667. Ngoài ra, DDR còn hỗ trợ kênh đôi, cho phép truy xuất bộ nhớ nhanh hơn, hiệu quả cao hơn.
Card đồ họa
Lĩnh vực đồ họa luôn được các nhà sản xuất quan tâm. Các bo mạch chủ mới đều hỗ trợ card đồ họa qua ke PCI Express x16, hoặc đồ họa tích hợp. Các chip đồ họa tích hợp không đem lại hiệu quả đồ họa cao, chỉ thích hợp cho người dùng gia đình và văn phòng. Tuy nhiên, một số chip đồ họa tích hợp có chất lượng rất tốt của Nvidia, ATI hay Intel 915G/945G.
Về đồ họa, giao tiếp AGP đã nhường chỗ cho PCI Express có băng thông cao gấp đôi AGP 8x. Không những thế công nghệ card đồ họa kép SLI đã đem lại khả năng xử lý đồ họa "siêu mạnh". SLI cho phép bạn gắn 2 card đồ họa vào bo mạch chủ, SLI thường đem lại khả năng xử lý đồ họa cao hơn bình thường từ 70-80%. Tuy nhiên, đây là các công nghệ cao cấp, giá của cặp card đồ họa trung bình cũng tới vài trăm USD.
Âm thanh
Bo mạch chủ tích hợp âm thanh có thể là lựa chọn tốt hơn. Các loại bo mạch chủ tích hợp chipset âm thanh sáu kênh thường chỉ thích hợp cho trò chơi hoặc phát lại MP3. Tuy nhiên, một số bo mạch chủ cao cấp có thể hỗ trợ âm thanh 8 kênh (7.1), đồng thời còn hỗ trợ thêm âm thanh số (SPDIF) ngõ quang/đồng trục. Nếu bạn muốn có chất lượng âm thanh tuyệt hảo thì bạn có thể mua một card âm thanh chất lượng cao như Creative Sounds BlasterLive 24bit chẳng hạn. Lúc đó, bạn có thể tắt âm thanh tích hợp này bằng các jumper hoặc chỉ cần thiết lập trong BIOS.
Lưu trữ
Hầu hết các bo mạch chủ hiện nay đều hỗ trợ ATA/100 hoặc ATA 133 và gần đây khá nhiều bo mạch chủ hỗ trợ SATA. SATA có băng thông cao tới 150MB/giây. Không những thế, SATA có thể cắm nóng, cáp kết nối lại nhỏ gọn, cho phép tiết kiệm không gian trong hộp máy. Không dừng ở đó, chuẩn SATA 2 đã xuất hiện với băng thông 300MB/s, gấp đôi so với SATA.
Bo mạch chủ tích hợp IDE RAID có thể là lựa chọn hấp dẫn. Hệ thống RAID cho máy tính cá nhân sử dụng một cặp đĩa cứng cùng loại để làm tăng hiệu năng (bằng cách ghi dữ liệu vào cả hai ổ đĩa) hoặc cung cấp giải pháp dự phòng trong trường hợp ổ cứng hỏng (ánh xạ ổ đĩa). Tuỳ chọn điều khiển RAID là lựa chọn không đắt, các bo mạch chủ hỗ trợ RAID chỉ tăng thêm khoảng 8 USD.
Kết nối
Hầu hết các bo mạch chủ hiện nay đều hỗ trợ Ethernet, USB 2.0 và cổng FireWire. Các cổng giao tiếp cũ như PS/2, cổng song song cũng dần "biến mất". Không những thế, một số giao tiếp mở rộng khác như mạng không dây, mạng Gigabit, Bluetooth, bộ đọc thẻ nhớ... cũng có thể được hỗ trợ
Phụ kiện đi kèm
Các đèn LED chuẩn đoán lỗi, đồng hồ giám sát hệ thống, nút Power, Reset máy tính, Reset BIOS, BIOS dự phòng... Ngoài ra, nhà sản xuất còn có thể đưa ra thêm các tiện ích, phần mềm đi kèm nhằm làm tăng sự tiện dụng, khả năng xử lý, độ ổn định và sao lưu, phục hồi hệ thống
Kường™
11-07-2008, 01:29 PM
Trong một hoàn cảnh nào đó, bạn không thể mua một bo mạch chủ mà lại không mua CPU và RAM. Bạn cần phải cân nhắc về giá cả và hiệu năng của bo mạch chủ trước khi quyết định mua sắm. Dưới đây là bảng phân loại bo mạch chủ theo giá và tính năng:
Tính năng\Cấu hình
Thấp (50 USD -80 USD)Trung bình (80 USD-120 USD)Cao cấp (120 USD hoặc cao hơn)Hỗ trợ CPUCeleron /SempronPentium 4/AthlonPentium 4 EE/Athlon FX/Athlon FX 64Cân nhắc kĩ: Bạn cần cân nhắc những loại CPU nào phù hợp với mình, chọn CPU của hãng nào AMD hay Intel. Bạn phải rất cân nhắc kĩ bởi sau này bạn khó có thể nâng cấp các loại CPU cao cấp hơn, cũng như không thể thay sang dùng loại CPU của hãng khác.Kiểu bộ nhớDDR 266/333DDR 333/400 có thể hỗ trợ kênh đôi DDR400/533 hoặc DDR2 533/800 hỗ trợ kênh đôiCân nhắc kĩ: Loại RAM mà bạn dùng sẽ quyết định tốc độ và hiệu năng máy tính. DDR RAM đã trở thành phổ biến, bạn hãy mua DDR có tốc độ cao nhất có thể và được bo mạch chủ hỗ trợ. DDR RAM có tốc độ cao hơn có giá không đắt hơn bao nhiêu so với các loại DDR có tốc độ thấp hơn.Kết nối thiết bị ngoại viUSB 2.0USB 2.0, có thể có FireWireUSB 2.0 và FireWireCân nhắc kĩ: USB 2.0 và FireWire sẽ là sự lựa chọn tốt, các giao tiếp này đem lại kết nối tốc độ cao rất tốt cho máy in, ổ ghi CD, DVD gắn ngoài, hoặc máy ảnh số.Thành phần tích hợpÂm thanh,LAN, Đồ hoạÂm thanh, LAN, có thể hỗ có Đồ hoạ Âm thanh, LANCân nhắc kĩ: Một số bo mạch chủ hỗ trợ tích hợp âm thanh, một số khác hỗ trợ âm thanh, LAN, đồ hoạ tích hợp. Nếu bạn không phải là "game thủ" thì bo mạch chủ tích hợp toàn bộ có thể là rất tốt. Nhưng bạn cũng nên mua loại bo mạch chủ có hỗ trợ khe cắm AGP hoặc PCIExpress để có thể nâng cấp đồ hoạ khi cần thiết.Lưu trữATA/100ATA/133, SATAATA/133, RAID, SATA,SATA2Cân nhắc kĩ: Tốc độ giao tiếp đĩa cứng quyết định tốc độ đĩa cứng của bạn. ATA 133 vẫn đang là phổ biến. Tuy nhiên, SATA 150 cũng đang là xu thế mới mà giá cả cũng không đắt hơn bao nhiêu. Một số bo mạch chủ cao cấp còn hỗ trợ RAID.
Lời khuyên khi mua sắm bo mạch chủ
Hãy tìm hiểu, nghiên cứu chipset
Bất cứ lúc nào, các nhà cung cấp bo mạch chủ cũng đưa ra các bo mạch chủ với vài loại chipset khác nhau. Các công ty sản suất chipset như Intel, Via, Sis và NVidia là những nhà sản xuất chipset chủ yếu. Thường thì, chipset được chia thành 2 loại chính là một loại hỗ trợ bộ xử lý của AMD, và một loại hỗ trợ bộ xử lý Pentium của Intel. Sự phân biệt chipset khác còn là khả năng hỗ trợ bộ nhớ, tốc độ bus, các thiết bị được tích hợp sẵn như bo đồ họa, âm thanh. Bởi vì có rất nhiều nhà sản xuất bo mạch chủ thường sử dụng cùng một loại chipset nên bạn sẽ dễ dàng phân biệt được các bo mạch chủ dựa vào chipset.
Đừng mua bộ xử lý nhanh nhất
Bạn phải tốn rất nhiều tiền chỉ để mua bộ xử lý có tốc độ cao nhất. Nhưng nếu bạn mua một bộ xử lý có tốc độ thấp hơn một chút thì giá rẻ hơn rất nhiều, không những thế bộ xử lý đắt nhất lại chưa chắc có tốc độ cao hơn hẳn.
Hãy mua loại bộ nhớ có tốc độ cao nhất mà bo mạch chủ của bạn hỗ trợ
Tuy nhiên, hiệu năng giữa các loại bộ nhớ này sẽ không tăng lên nhiều, nhưng có một điều chắc chắn là khi bạn cần nâng cấp bộ nhớ thì loại bộ nhớ có tốc độ nhanh nhất bao giờ cũng tìm được dễ dàng hơn.
Hãy cẩn thận với nhược điểm của đồ hoạ tích hợp
Các chipset hỗ trợ tích hợp đồ hoạ vào bo mạch chủ thường sử dụng bộ nhớ hệ thống để lưu trữ dữ liệu đồ hoạ, chính điều này là nguyên nhân gây ra giảm tốc độ hệ thống. Một số chip đồ hoạ tích hợp của Nvidia và ATI có thể cho hiệu năng tốt, nhưng tốt nhất bạn không nên sử dụng chip tích hợp hoặc card đồ hoạ rẻ tiền. Nếu bạn có dự định nâng cấp về sau, tốt nhất bạn hãy mua bo mạch chủ có khe cắm AGP hay gần đây hơn là chuẩn PCIExpress.
Hãy bỏ thêm một chút tiền
Bạn chỉ cần thêm 20USD khi mua bo mạch chủ là bạn sẽ có các công nghệ mới được tích hợp như RAID, LAN, USB 2.0 và có thể cả cổng FireWire nữa. Các tính năng này có thể bây giờ bạn chưa cần đến nhưng sau này chúng sẽ rất cần thiết đối với bạn. Không những thế, bạn lại tiết kiệm được một khe cắm PCI khi nâng cấp.
Kường™
11-07-2008, 03:13 PM
Bước 1: Chuẩn bị
Bước đầu tiên trong tiến trình cài đặt card màn hình vào một máy tính là phải gỡ bỏ driver cũ đã cài vào hệ điều hành từ trước đó. Tuy nhiên, trước khi làm việc đó, bạn phải đọc kỹ quyển hướng dẫn sử dụng (User's Manual) gửi kèm theo card màn hình mới của bạn. Thường thì quyển sách sẽ hướng dẫn bạn qua các bước cụ thể, tương tự như lời hướng dẫn ở đây của chúng tôi.
Bạn hãy mở system properties (thuộc tính hệ thống) bằng cách nhắp chuột phải vào biểu tượng My Computer trên màn hình, và chọn properties. Bạn cũng có thể làm theo cách khác, bằng cách mở Control Panel, và nhắp đúp vào biểu tượng System. Khi cửa sổ System Properties được mở, bạn hãy chọn thẻ Device Manager, kéo thanh cuộn (scroll bar) xuống mục Display Adapter. Khi bạn chọn mục này, máy tính sẽ hiển thị card màn hình hiện thời. Nhắp vào và lựa tuỳ chọn Remove (gỡ bỏ), chọn Yes khi cửa sổ nhắc (prompting window) hiện ra.
Card màn hình trước đây của bạn có thể đi kèm theo một số phần mềm chuyên biệt, tức là chỉ sử dụng được bằng card cũ. Vì vậy bạn sẽ phải gỡ bỏ cả những phần mềm đó đi. Bạn hãy chọn Control Panel, nhắp vào biểu tượng Add/Remove Programs. Tất cả các phần mềm đã cài đặt đều được liệt kê tại đây, bạn có thể nhìn thấy phần mềm cần gỡ bỏ. Khi bạn đã gỡ bỏ phần mềm, máy tính sẽ yêu cầu bạn khởi động lại hệ thống. Bắt đầu từ đây, bạn có thể thực hiện một trong hai cách thức cơ bản: bạn gỡ bỏ card cũ và cài card mới, khởi động lại máy khi quá trình cài đặt xong xuôi; hoặc bạn có thể quay lại Windows và máy tính sẽ tự động phát hiện card màn hình, và thường thì máy tính sẽ hiện ra Standard PCI Graphics Adapter (VGA) (driver card màn hình ngầm định mà Microsoft cung cấp).
Thao tác trên thường được thực hiện trong Windows 95 để việc cài đặt card màn hình mới được dễ dàng hơn. Nhưng nếu bạn đang sử dụng hệ điều hành Windows 98 hoặc cao hơn, thì không nhất thiết phải thực hiện thao tác trên. Vấn đề ở đây là khi máy tính khởi động lại với card màn hình cũ, nó sẽ tự động phát hiện và sau đó tự động cài đặt driver trước đây của bạn (thậm chí không hề đưa ra lời khuyến cáo bạn cài Standard PCI Graphics Adapter). Vì thế, chúng tôi khuyên bạn không nên thực hiện thao tác này.
Nếu bạn đang dùng máy tính có chip màn hình on-board, tức là chip được gắn lền với bo mạch chủ, bạn nên vô hiệu hoá nó. Bạn có thể rút jumper trên bo mạch, hoặc thay đổi tuỳ chọn trong BIOS. Để thao tác một cách chính xác, bạn nên đọc qua tài liệu hướng dẫn mà nhà sản xuất bo mạch chủ đưa cho bạn. Nếu không có, bạn có thể tải tài liệu này từ Website của nhà sản xuất.
Bước 2: Lắp đặt card màn hình
Đây là bước mà những người chưa quen với việc cài đặt nghĩ rằng chắc là rất khó. Bởi vì khi bạn mở vỏ máy ra là bạn nhìn ngay thấy lớp lớp các bản mạch điện tử cắm xen kẽ nhau và bạn cảm thấy sợ hãi vì nghĩ rằng mình sẽ đụng chạm đến một chi tiết nào đó và làm hỏng hóc một bộ phận trong máy tính. Nhưng thực sự cài đặt một card màn hình là một công việc rất dễ dàng.
Bạn hãy lấy card màn hình mới ra và kiểm tra loại chân cắm mà nó sử dụng (có thể nó được giới thiệu trên hộp đựng card màn hình của bạn). Chân cắm nằm trong hai loại sau:
Loại thứ nhất giống như chiếc card ở phía trên trong hình minh họa, card này sử dụng chân cắm AGP. Loại thứ hai giống như chiếc card ở bên dưới hình minh hoạ, nó sử dụng chân cắm PCI. Phần lớn các loại card sản xuất hiện nay sử dụng chân cắm AGP nhiều hơn là PCI, bởi vì AGP (Accelerated Graphics Port - cổng tăng tốc đồ họa) được thiết kế riêng cho các loại card đồ họa. Bus AGP chạy ở tốc độ mặc định là 66 MHz, trong khi bus PCI chạy ở tốc độ 33 MHz. Bus AGP cũng có khả năng hỗ trợ băng thông cao hơn, lên tới 1.017MB/giây ở chế độ 4x, và 508.6MB/giây ở chế độ 2x. Loại PCI chỉ có thể đạt băng thông 127,2MB/giây, không thích hợp đối với các loại máy tính hiện nay. Bus AGP cũng hỗ trợ truy cập bộ nhớ hệ thống chính cho việc lưu trữ và tìm kiếm dữ liệu, thay cho việc chỉ duy nhất sử dụng thẻ nhớ.
Bây giờ là lúc bạn gỡ bỏ card màn hình cũ. Loại card cũ của bạn có thể nằm trong khe cắm PCI hoặc AGP. Bạn có thể dễ dàng xác định được card màn hình bởi vì nó được nối trực tiếp với màn hình máy tính thông qua một dây dẫn lớn. Bạn hãy dùng tua-vít tháo ốc, nhẹ nhàng rút chiếc card ra khỏi khe cắm. Khi đã lấy card cũ ra khỏi máy, bạn nên cho nó vào một bao mềm để bảo quản tránh hư hỏng.
Tiếp theo, chắc hẳn bạn muốn cắm chiếc card mới vào đúng loại khe cắm trên bo mạch chủ dành cho nó. ở trong hình mình họa, khe cắm màu trắng là PCI, màu nâu là AGP.
Bây giờ, bạn hãy đưa chiếc card màn hình vào đúng khe cắm đã xác định. Bạn không nên làm xô lệch các bộ phận khác trong máy. Trước khi cắm card vào khe cắm, bạn nên giữ cho chúng thẳng hàng và vuông góc với bo mạch chủ.
Sau khi đã đặt thẳng hàng, bạn có thể nhẹ nhàng ấn card xuống khe cắm. Chú ý rằng phải ấn chân cắm của card xuống hết khe cắm, để cho tất cả các bộ phận tiếp xúc ở chân cắm có thể liên kết với các bộ phận ở khe cắm.
Khi đã xong xuôi, bạn phải vặn ốc để giữ cố định card màn hình trong vỏ máy. Thường thì chúng tôi sẽ không vặn ốc chặt ngay, mà chúng tôi sẽ cài đặt và thiết lập cấu hình cho card mới hoàn chỉnh rồi mới vặn ốc chặt. Bởi vì khi cài đặt card mới có thể bạn sẽ gặp phải một số trục trặc hay xung đột và lúc đó bạn lại phải tháo ốc ra.
Bước 3: Cài đặt trình điều khiển (driver) card màn hình
Sau khi bạn đã hoàn thành việc lắp đặt card màn hình, và chiếc card đã được cắm dây nối với màn hình, bạn có thể tiến hành cài đặt trình điều khiển (driver) cho card mới. Bạn hãy bật máy tính lên. Nếu màn hình hiển thị theo chế độ khởi động lại thì bạn có thể bắt đầu quá trình cài đặt. Nếu màn hình không thị gì thì tức là bạn đã cắm nhầm card vào một khe cắm không đúng, hoặc bạn đã quên gỡ bỏ chip màn hình trên bo mạch (on-board) và từ đó có xung đột xảy ra.
Khi quá trình khởi động của máy tính diễn ra bình thường, máy tính sẽ hiển thị một cửa sổ tự động phát hiện card mới. Cửa sổ này sẽ nhắc bạn chọn trình điều khiển cho chiếc card màn hình mới của bạn. Trình điều khiển này thường được nhà chế tạo cung cấp cho bạn khi bạn mua card và thường là nằm trong một đĩa CD-ROM. (Bạn hãy chỉ đường dẫn cho máy đến trình điều khiển đó khi cửa sổ trên hiện ra). Nếu bạn không có đĩa CD-ROM chứa trình điều khiển, máy tính sẽ tự động cài đặt trình điều khiển chuẩn Standard PCI Graphics Adapter, nó sẽ không đúng lắm so với trình điều khiển của nhà chế tạo. Xét trên một khía cạnh nào đó thì việc cài đặt trình điều khiển chuẩn này cũng có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, bạn nên nhanh chóng kiếm trình điều khiển đúng với chiếc card của bạn do nhà chế tạo cung cấp.
Giả sử bạn đã có đĩa CD-ROM chứa trình điều khiển card màn hình. Khi bạn đặt đĩa vào ổ đọc CD, file autorun sẽ tự động chạy file setup.exe, và bạn có thể tiến hành cài đặt theo trình tự do phần mềm đưa ra.
Bước 4: Khắc phục sự cố
Kường™
11-07-2008, 03:14 PM
Bước 4: Khắc phục sự cố
Khi cài đặt, bạn có thể sẽ gặp phải một số trục trặc. Chúng tôi xin nêu ra ở đây một số lỗi thường gặp trong quá trình cài đặt card màn hình. Đầu tiên, nếu máy tính không bật lên sau khi bạn cài đặt card màn hình (hoặc phát ra tiếng kêu bip bip bip), bạn có thể cần phải gỡ bỏ card mới và cắm lại card màn hình cũ vào máy tính . Nếu card cũ chạy bình thường thì tức là card mới của bạn đã xung đột với hệ thống, hoặc card mới của bạn đã bị hỏng vì một lý do kỳ cục nào đó. Cũng có thể trong quá trình lắp đặt card mới bạn đã làm xô lệch chân cắm của một số thiết bị bên trong vỏ máy. Vì vậy, bạn hãy kiểm tra kỹ lại vị trí thanh nhớ Ram hay CPU cũng như các dây cáp trong máy.
Một trục trặc nữa cũng thường xảy ra là màn hình sẽ tối đen khi bạn chơi một trò chơi (game) đặc biệt nào đó. Lỗi là do card màn hình của bạn lúc đó liên hệ với màn hình thông qua trình điều khiển plug & play ngầm định, không phải trình điều khiển của loại màn hình bạn đang sử dụng. Công việc bạn phải làm lúc này là liên hệ với nhà sản xuất màn hình và xin trình điều khiển chuẩn cho loại màn hình máy tính của bạn. Khi đã cài đặt xong trình điều khiển chuẩn, bạn có thể yên tâm chơi bất cứ loại game nào.
Nếu thỉnh thoảng màn hình lại bị treo khi đang sử dụng máy tính, có thể nguyên nhân là do card quá nóng hoặc chạy không đúng đặc tính kỹ thuật. Trường hợp card bị nóng, bạn cần thay một chiếc quạt gió lớn hơn cho máy. Trường hợp thứ hai bạn cần sửa lại đồng hồ hệ thống. Nguyên nhân là do tốc độ của chip đã bị ép chạy quá tốc độ. Bạn có thể sử dụng một chương trình gọi là powerstrip để giảm tốc độ chip xuống. Nếu các cách thức trên vẫn không cải thiện được tình hình thì có lẽ là bạn đã mua phải một card màn hình tồi.
Trên đây là cách thức cài đặt mới một card màn hình.
Kường™
11-07-2008, 05:50 PM
Để hệ thống mạng làm việc trơn tru, hiệu quả và khả năng kết nối tới những hệ thống mạng khác đòi hỏi phải sử dụng những thiết bị mạng chuyên dụng. Những thiết bị mạng này rất đa dạng và phong phú về chủng loại nhưng đều dựa trên những thiết bị cơ bản là Repeater, Hub, Switch, Router và Gateway.
Bài viết này sẽ giúp bạn đọc có được một những hiểu biết cơ bản về các thiết bị mạng kể trên:
Repeater
Trong một mạng LAN, giới hạn của cáp mạng là 100m (cho loại cáp mạng CAT 5 UTP – là cáp được dùng phổ biến nhất), bởi tín hiệu bị suy hao trên đường truyền nên không thể đi xa hơn. Vì vậy, để có thể kết nối các thiết bị ở xa hơn, mạng cần các thiết bị để khuếch đại và định thời lại tín hiệu, giúp tín hiệu có thể truyền dẫn đi xa hơn giới hạn này.
Repeater là một thiết bị ở lớp 1 (Physical Layer) trong mô hình OSI. Repeater có vai trò khuếch đại tín hiệu vật lý ở đầu vào và cung cấp năng lượng cho tín hiệu ở đầu ra để có thể đến được những chặng đường tiếp theo trong mạng. Điện tín, điện thoại, truyền thông tin qua sợi quang… và các nhu cầu truyền tín hiệu đi xa đều cần sử dụng Repeater.
Hub
Hub được coi là một Repeater có nhiều cổng. Một Hub có từ 4 đến 24 cổng và có thể còn nhiều hơn. Trong phần lớn các trường hợp, Hub được sử dụng trong các mạng 10BASE-T hay 100BASE-T. Khi cấu hình mạng là hình sao (Star topology), Hub đóng vai trò là trung tâm của mạng. Với một Hub, khi thông tin vào từ một cổng và sẽ được đưa đến tất cả các cổng khác.
Hub có 2 loại là Active Hub và Smart Hub. Active Hub là loại Hub được dùng phổ biến, cần được cấp nguồn khi hoạt động, được sử dụng để khuếch đại tín hiệu đến và cho tín hiệu ra những cổng còn lại, đảm bảo mức tín hiệu cần thiết. Smart Hub (Intelligent Hub) có chức năng tương tự như Active Hub, nhưng có tích hợp thêm chip có khả năng tự động dò lỗi - rất hữu ích trong trường hợp dò tìm và phát hiện lỗi trong mạng.
Bridge
http://vnexperts.net/images/stories/LinksysBridge.jpg
Bridge là thiết bị mạng thuộc lớp 2 của mô hình OSI (Data Link Layer). Bridge được sử dụng để ghép nối 2 mạng để tạo thành một mạng lớn duy nhất. Bridge được sử dụng phổ biến để làm cầu nối giữa hai mạng Ethernet. Bridge quan sát các gói tin (packet) trên mọi mạng. Khi thấy một gói tin từ một máy tính thuộc mạng này chuyển tới một máy tính trên mạng khác, Bridge sẽ sao chép và gửi gói tin này tới mạng đích.
Ưu điểm của Bridge là hoạt động trong suốt, các máy tính thuộc các mạng khác nhau vẫn có thể gửi các thông tin với nhau đơn giản mà không cần biết có sự "can thiệp" của Bridge. Một Bridge có thể xử lý được nhiều lưu thông trên mạng như Novell, Banyan... cũng như là địa chỉ IP cùng một lúc. Nhược điểm của Bridge là chỉ kết nối những mạng cùng loại và sử dụng Bridge cho những mạng hoạt động nhanh sẽ khó khăn nếu chúng không nằm gần nhau về mặt vật lý.
Switch
http://vnexperts.net/images/stories/switch.jpg
Switch đôi khi được mô tả như là một Bridge có nhiều cổng. Trong khi một Bridge chỉ có 2 cổng để liên kết được 2 segment mạng với nhau, thì Switch lại có khả năng kết nối được nhiều segment lại với nhau tuỳ thuộc vào số cổng (port) trên Switch. Cũng giống như Bridge, Switch cũng "học" thông tin của mạng thông qua các gói tin (packet) mà nó nhận được từ các máy trong mạng. Switch sử dụng các thông tin này để xây dựng lên bảng Switch, bảng này cung cấp thông tin giúp các gói thông tin đến đúng địa chỉ.
Ngày nay, trong các giao tiếp dữ liệu, Switch thường có 2 chức năng chính là chuyển các khung dữ liệu từ nguồn đến đích, và xây dựng các bảng Switch. Switch hoạt động ở tốc độ cao hơn nhiều so với Repeater và có thể cung cấp nhiều chức năng hơn như khả năng tạo mạng LAN ảo (VLAN).
Router
http://vnexperts.net/images/stories/router.jpg
Router là thiết bị mạng lớp 3 của mô hình OSI (Network Layer). Router kết nối hai hay nhiều mạng IP với nhau. Các máy tính trên mạng phải "nhận thức" được sự tham gia của một router, nhưng đối với các mạng IP thì một trong những quy tắc của IP là mọi máy tính kết nối mạng đều có thể giao tiếp được với router.
Ưu điểm của Router: Về mặt vật lý, Router có thể kết nối với các loại mạng khác lại với nhau, từ những Ethernet cục bộ tốc độ cao cho đến đường dây điện thoại đường dài có tốc độ chậm.
Nhược điểm của Router: Router chậm hơn Bridge vì chúng đòi hỏi nhiều tính toán hơn để tìm ra cách dẫn đường cho các gói tin, đặc biệt khi các mạng kết nối với nhau không cùng tốc độ. Một mạng hoạt động nhanh có thể phát các gói tin nhanh hơn nhiều so với một mạng chậm và có thể gây ra sự nghẽn mạng. Do đó, Router có thể yêu cầu máy tính gửi các gói tin đến chậm hơn. Một vấn đề khác là các Router có đặc điểm chuyên biệt theo giao thức - tức là, cách một máy tính kết nối mạng giao tiếp với một router IP thì sẽ khác biệt với cách nó giao tiếp với một router Novell hay DECnet. Hiện nay vấn đề này được giải quyết bởi một mạng biết đường dẫn của mọi loại mạng được biết đến. Tất cả các router thương mại đều có thể xử lý nhiều loại giao thức, thường với chi phí phụ thêm cho mỗi giao thức.
Gateway
http://vnexperts.net/images/stories/gateway.jpg (http://vietnamnet.vn/dataimages/200601/original/images868035_gateway.jpg)
Gateway cho phép nối ghép hai loại giao thức với nhau. Ví dụ: mạng của bạn sử dụng giao thức IP và mạng của ai đó sử dụng giao thức IPX, Novell, DECnet, SNA... hoặc một giao thức nào đó thì Gateway sẽ chuyển đổi từ loại giao thức này sang loại khác.
Qua Gateway, các máy tính trong các mạng sử dụng các giao thức khác nhau có thể dễ dàng "nói chuyện" được với nhau. Gateway không chỉ phân biệt các giao thức mà còn còn có thể phân biệt ứng dụng như cách bạn chuyển thư điện tử từ mạng này sang mạng khác, chuyển đổi một phiên làm việc từ xa...
NGUYỄN VĂN LỘC
11-07-2008, 08:16 PM
Thay đổi ảnh nền của folder trong windows XP
Đối với dòng windows me/9x người dùng có thể dễ dàng lót ảnh nền cho các thư mục trên ổ cứng bằng chức năng Customize this Folder trong menu chuột phải tương tác, tuy nhiên trong WinXP lại không hổ trợ chức năng này; mà để làm được bạn có thể dùng thủ thuật sau.
http://images.timnhanh.com/tintuc/20080226/big/14104_1203993094.jpg
1. Mở Notepad và nhập vào đoạn mã Code như sau:
[.ShellClassInfo]
IconFile=%SystemRoot%\system32\SHELL32.dll
IconIndex=3
ConfimFileOp=0
[ExtShellFolderViews]
{BE098140-A513-11D0-A3A4-00C04FD706EC}={BE098140-A513-11D0-A3A4-00C04FD706EC}
[{BE098140-A513-11D0-A3A4-00C04FD706EC}]
Attributes=1
IconArea_Image=F:\Data_picture\pic_nghethuat\nguoi _dep_173.jpg
IconArea_Text=0x000000FF
2. Lưu ý các thông số:
a. IconArea_Image: đây là đường dẫn đến thư mục chứa ảnh mà bạn muốn hiển thị làm nền lót.
b. IconArea_Text=0x000000FF qui định mà Font chữ trong Folder, ở ví dụ bài viết này màu của tôi là màu đỏ, nếu cần bạn có thể thay đổi dãy số sau chử "x" ứng với các màu: 000000 (màu đen), FFFF00: mà xanh dương....
3. Sau đó lưu lại với tên là "Desktop.ini" và copy vào thư mục hay ổ đĩa muốn hiển thị hình nền lót nên đặt thuộc tính ẩn cho tập tin Desktop.ini này để thuận lợi hơn cho việc quản lý dữ liệu trong Folder
Timnhanh
NGUYỄN VĂN LỘC
11-07-2008, 09:00 PM
Những thủ thuật “tăng tốc” Windows XP
Sau một thời gian sử dụng, bạn nhận thấy máy tính của bạn, với hệ điều hành trở nên ỳ ạch và đôi lúc khiến bạn phát điên vì sự rề rà. Có nhất thiết phải cài lại cả máy, công việc hứa hẹn sẽ ngốn của bạn cả ngày? Dưới đây là một vài thao tác đơn giản để cải thiện tình trạng máy bạn.
Tiết kiệm tài nguyên
Nếu xài Windows XP trong một thời gian dài, bạn sẽ nhận thấy được sự hiện diện của file hiberfil.sys, chiếm gần hết bộ nhớ của máy và có dung lượng rất lớn (trên dưới 300MB). Đó là tập tin của chức năng “ngủ đông” Hibernate của Windows XP.
Khi sử dụng chức năng này (Start/Turn Off Computer/Hibernate), tất cả thông tin về hệ điều hành, về các chương trình đang sử dụng, về cách sắp đặt hệ thống sẽ được lưu lại trong tập tin hiberfil.sys trước khi tắt máy. Khi bạn mở máy ra, các thông tin đang ngủ đông trên sẽ được được trả về trạng thái cũ. Nói tóm lại là với chức năng này, bạn có thể tắt và mở máy rất nhanh đồng thời giữ lại đượïc tất cả những gì mình đang làm việc. Nhưng chức năng này tiêu tốn rất nhiều tài nguyên của máy (bộ nhớ và dung lượng).
Nếu bạn không bao giờ sử dụng chức năng Hibernate, tức là sự tồn tại của tập tin hiberfil.sys trên máy là thừa, bạn nên xóa nó đi bằng cách: chọn Start/Run, sau đó gõ powercfg.cpl. Một cửa sổ sẽ hiện lên, bạn chọn phiếu Hibernate. Ở khung Hibernate, bạn đánh dấu bỏ chọn phần Enable Hibernation. Sự thay đổi đựoc thực hiện rất nhanh và tập tin hiberfil.sys sẽ tự động bị xoá bỏ.
Khởi động nhanh Windows
Bạn chọn Start/Run, sau đó gõ vào khung Open dòng Regedit, click OK. Sau đó, bạn lần lượt mở khoá sau: H***_LOCAL_MACHINE \SOFTWARE \Microsoft \Dfrg \BootOptimizeFunction.
Bạn nhìn qua cửa sổ bên phải, double click vào biểu tượng Enable. Trong khung Value Data, bạn thay đổi giá trị Y thành giá trị N. Click OK và khởi động lại máy. Windows XP sẽ khởi động nhanh hơn từ 5-8 giây tùy theo cấu hình máy của bạn.
Một số phương pháp tăng tốc máy tính
Khởi động chậm, mở chương trình chậm, làm việc chậm, lên mạng chậm… Bạn điên cả người vì sự ì ạch này làm bạn tốn nhiều thời gian và cả tiền nữa. Bạn muốn cải thiện tình hình? Hãy tham khảo vài phương pháp “phổ thông” sau:
Diệt Virus
Cẩn tắc vô ưu, bạn đừng nên xem nhẹ việc kiểm soát sự xâm nhập của các “vị khách không mời” nhé vì chắc rằng bạn biết rõ “công dụng” của chúng. Bạn đã có một chương trình chống virus? Quá hay, nhưng đó chỉ giải quyết được nửa vấn đề thôi. Điều quan trọng là các “vaccin” của bạn phải được cập nhật thường xuyên vì các con bọ đáng ghét này luôn được làm mới hằng ngày. Bạn có thể sử dụng các phần mềm quét virus quen thuộc ở Việt Nam như BKAV hay D32.
Dĩ nhiên, bạn hoàn toàn có thể “thủ” sẵn trong máy ở Norton Antivirus, tuy hơi “choán chỗ” nhưng rất vững chắc. Ngoài ra, website của Symantec sẽ cung cấp cho bạn một máy quét và diệt virus trực tuyến rất đơn giản mà hiệu quả: chỉ cần kết nối vào đó và bấm nút Scan. Hai trợ thủ rất xịn khác mà bạn có thể tìm thấy miễn phí trên mạng là A2 free edition và McAfee AVERT Stinger . Cả hai tiện ích này đều nằm trong top 40 các trình quét virus tốt nhất thế giới và chúng luôn được cập nhật thường xuyên.
Lột mặt Spywares
Những chương trình gián điệp này sẽ tự do đột nhập vào máy tính của bạn một cách hợp pháp khi bạn cài đặt một phần mềm miễn phí hay download một file nào đó bằng hệ thống Peer to Peer (Kazaa chẳng hạn). Những tên gián điệp này sẽ làm chậm máy bạn vì chúng sẽ liên tục gửi những thông tin cá nhân đã ăn cắp của bạn về các công ty gửi thư rác khi máy tính kết nối vào Internet. Hãy lột mặt chúng bằng các tiện ích như LavaSoft Ad-Aware, Spybot Search & Destroy hay SpywareBlaster...
Dọn nhà
Khi bạn cài đặt một chương trình mới vào máy, hệ thống sẽ tự động “cấp nhà” cho chương trình đó trên ổ cứng. Khi bạn gỡ bỏ nó, chương trình đó sẽ để lại một khoảng trống trong ổ cứng của bạn. Nhiều lần cài và gỡ các phần mềm vào máy sẽ làm các khoảng trống tăng lên. Điều này sẽ làm khổ cho đầu đọc của ổ cứng vì nó phải đọc cả những khoảng trống không cần thiết trong quá trình tìm kiếm dữ liệu. Việc sắp xếp lại dữ liệu sẽ giúp cho đầu đọc không phải thực hiện những việc thừa vì hệ thống sẽ sắp xếp lại các dữ liệu trên ổ cứng sao cho các khoảng trống không còn nữa.
Để kích hoạt chức năng này trong Windows, bạn chọn
Start/Programs /Accessories /System Tools /Disk Defragmenter.
Bạn chỉ cần chọn ổ dĩa cứng và click nút Defragment để bắt đầu việc dọn dẹp. Bạn còn có thể sử dụng phần mềm O&O Defrag để việc sắp xếp hiệu quả hơn.
Kiểm tra các tập tin hệ thống
Trong quá trình sử dụng, các file hệ thống căn bản của hệ điều hành Windows XP có thể bị tổn hại do nhiều nguyên nhân. Bạn hãy kiểm tra và hồi phục chúng lại. Đầu tiên, chọn Start/Run. Sau đó trong khung Open, bạn gõ SFC/scannow. Hệ thống sẽ yêu cầu bạn đưa vào CD cài đặt Windows XP. Hãy cho nó vào CD-Rom của bạn và ngồi chờ kết quả.
Khởi động nhanh hơn
Việc khởi động máy chậm có nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là do những chương trình trong máy như Yahoo!Messenger, Viet***, Norton Antivirus hay BKAV được cài vào khung Startup của Windows (bạn có thể tìm thấy khung này ở phía dưới bên phải desktop). Hạn chế được số lượng ứng dụng cài trên thanh Startup sẽ cải thiện tối đa tốc độ khởi động Windows của máy.
Đầu tiên, bạn hãy khởi động tiện ích System Configuration Utilities của Windows bằng cách vào Start/Run và gõ msconfig vào ô Open. Sau đó, bạn chọn thẻ Startup và bạn sẽ thấy một danh sách dài những chương trình sẽ được kích hoạt khi Windows khởi động.
Click bỏ chọn những chương trình không cần thiết.
Thay đổi thời gian sao lưu dự phòng của System Restore (rất cần thiết cho những người hay "táy máy")
Windows XP tự động kiểm soát, quản lý mọi thay đổi trong máy bạn. Như vậy, khi gặp một sự cố nào liên quan đến hệ thống (cài đặt chương trình hỏng, làm hư registry, thay đổi driver), với System Restore, bạn có thể dễ dàng khôi phục lại những gì đã mất bằng cách trở về vài ngày trước đó, lúc mà sự cố chưa xảy ra.
Điều bạn cần phải biết là tiện ích này tạo những “cột mốc khôi phục” theo từng thời gian nhất định. Thông thường, cứ mỗi 24 tiếng, System Restore thực hiện một cột mốc khôi phục. Nếu bạn là người thường xuyên install và uninstall nhiều phần mềm, bạn nên tăng tần số của System Restore để các cột mốc khôi phục được chính xác và cập nhật hơn, như vậy, việc “trở về quá khứ” của bạn sẽ dễ dàng hơn. Ngược lại, bạn nên giảm tần số nếu không muốn System Restore chiếm quá nhiều chỗ trong bộ nhớ của máy.
Để thực hiện điều này, bạn vào Registry (Start/Run/Regedit). Sau đó, bạn tìm khóa H***_LOCAL_MACHINE \SOFTWARE \Microsoft\Windows NT \ CurrentVersion \ SystemeRestore.
Sau đó, tìm bên cửa sổ bên phải giá trị DWORD mang tên RPGlobalInterval và nhấp đúp vào nó. Trong cửa số mới, chọn Base/Decimal để sử dụng các số trong hệ thập phân và trong khung Value Data, bạn sẽ thay đổi số 86400 (giây - 24 tiếng) theo ý mình. Đừng nên chọn số quá nhỏ. Ít nhất, bạn nên chọn tần số là 6 giờ (21600 giây) để System Restore tạo ra 4 cột mốc khôi phục mỗi ngày.
dantri
Kường™
11-07-2008, 10:10 PM
NGĂN CHẶN NHỮNG BỨC THƯ KHÔNG MONG MUỐN BẰNG CÁCH NÀO
Thư điện tử E-mail một dịch vụ được sử dụng phổ biến hiện nay trên Internet , nó đã trở thành phương tiện giao lưu hàng ngày của mọi người dùng Internet. sử dụng dịch vụ E-Mail có 2 ưu điểm cơ bản thông tin nhanh và rẻ. Dịch vụ này đã và đang thay thế dần con tem và phong bì trong cuộc sống hiện nay. Tuy nhiên nó lại bộc lộ một số nhược điểm , nhược điểm lớn nhất là bạn phải nhận những bức thư mà bạn không muốn không mong đợi. Các bức thư đó có thể là thông tin quảng cáo của các hãng, có thể là Virus....Hậu quả của các bức thư này thật tai hại , các tai hại đó gồm :
- Tăng chi phí cho thời gian truy cập vào Internet do phải đợi để Download thư về
- ổ đĩa cứng của máy có thể bị ních đầy vì thư gửi về tới tấp.
- Có thể mang theo virus về máy.....
Những bức thư không chờ mà đến này người ta gọi là thư rác hay Spam. Làm thế nào để ngăn chặn Spam ? Dưới đây là một vài giải pháp
- Sử dụng một số phần mềm chuyên dụng như SpamScan 97 hay Webster Image (giá 23USD ) hay SpamBuster của Contact Plus (giá 20 USD). Các chương trình này sẽ giúp bạn ngăn chặn những bức thư không mong đợi, để biết thêm thông tin về các chương trình trên bạn có thể theo địa chỉ :
www.pcworld.com/step98/dèender_spam
- Nhờ hỗ trợ của nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP)
- Đăng ký dịch vụ lọc Spam miễm phí với một số hãng làm dịch vụ này , chẳng hạn Bright Mail thông qua www.brightmail.com (http://www.brightmail.com/). Hạn chế của biện pháp này cung cấp mật khẩu vào mail server và dịch vụ này cũng chỉ lọc được các e- mail dùng giao thức POP3
- Nếu bạn có tham gia dịch vụ newgroup bạn có thể đăng kí sử dụng dịch vụ chống Spam của Nysmerver với lệ phí 35 USD/năm. Ưu điểm dịch vụ này sẽ giữ bị mật địa chỉ E-Mail thật của bạn, chi tiết tra WWW.Nymserver.Com (http://www.nymserver.com/)
- Đăng kí tham gia dịch vụ SpamCop (www.spamcop.net) với lệ phí 15USD/năm
- Dùng phiên bản mới nhất của Outlook Express và Netscape Mesenger để thiết lập các qui định lọc thư để loại bỏ Spam.
- Đặt chương trình duyệt web ở chế độ không hiển thị địa chỉ E-Mail và Password khi tải xuống các tập tin. Cụ thể với Netscape Mesenger 4.5: chọn Edit/Preferences rồi nhấn vào nút Advanced. Bỏ dấu chọn trong ô cạnh dòng Send E-Mail as Anonymous FTP Pasword, bấm OK. Với Internet Exlorer 5.0: Chọn Tools/Internet Options, nhấn nút Security. Chọn biểu tựơng Internet trong hộp Zone. Sau đó chọn Custom Level. Chọn tiếp phần User Authentication/Logon, nhắn Anonymous Logon.
Kường™
11-07-2008, 10:25 PM
Bạn có nhiều máy tính, nếu phải thiết lập kết nối Internet riêng cho từng máy thì thật không hợp lý tí nào. Rất may là Windows đã tích hợp sẵn phần mềm Internet Connection Sharing (ICS) để giúp tất cả máy tính có thể chia sẻ một đường kết nối Internet duy nhất.
Trước tiên, bạn cần phải kết nối các máy tính lại với nhau (xem PCWVN 11/1998 trang 101, 10/1999 trang 111, http://find.pcworld.com/32504). Kế tiếp, bạn còn phải có một đường kết nối Internet đang hoạt động tốt.
Với mạng khoảng 2 hay 3 máy tính thì loại kết nối quay số qua đường điện thoại đã có thể chấp nhận được. Nhưng nếu số lượng máy nhiều hơn, hoặc đòi hỏi phải tải phần mềm khá nhiều thì bạn cần có loại kết nối Internet “xịn” như băng rộng. Mặc dù ICS cũng có thể làm việc với loại kết nối Internet băng rộng, nhưng bạn nên xem xét giải pháp sử dụng bộ định tuyến (http://find.pcworld.com/33362) thay cho ICS.
ICS có sẵn trong Windows 98, Me, 2000, XP Home/Professional. Tuy nhiên, bạn nên sử dụng máy chạy Windows XP làm máy chia sẻ Internet; ví dụ trong bài này sử dụng Windows XP Professional. Với các phiên bản Windows khác, bạn có thể xem hướng dẫn ở phần trợ giúp, tìm từ khóa “Internet Connection Sharing”. Riêng với Windows 98, bạn xem lại PCWVN số 10/1999 trang 85.
Quốc Tuyên
PC World Mỹ 03/2003
1. Kích hoạt Network Setup Wizard. Nhấn Start và chọn My Network Places. Trong hộp chọn lựa Network Tasks, nhấn Setup a home or small office network. Network Setup Wizard sẽ xuất hiện. Nhấn Next.
2. Đảm bảo mạng máy tính đã hoạt động tốt. Hãy đọc kỹ thông tin trong hộp thoại “Before you continue”. Nếu mạng máy tính của bạn đã hoạt động tốt thì bạn không cần nhấn vào liên kết “Checklist for creating a network”. Nhấn Next.
3. Cài đặt ICS lên máy tính. Trên màn hình “Select a connection method”, kiểm tra chắc chắn mục This computer connects directly to the Internet đã được chọn, rồi nhấn Next.
4. Xác định kết nối Internet dùng để chia sẻ. Trên màn hình “Select your Internet connection”, chọn kết nối muốn chia sẻ. Nếu muốn chia sẻ kết nối modem hoặc DSL thì việc chọn lựa không có gì khó. Nhưng nếu bạn có hai card mạng trên cùng một máy thì cần phải có “mẹo” để chọn đúng card mạng . Để xem thêm thông tin, nhấn vào liên kết how to determine your Internet connection. Nếu vẫn còn gặp rắc rối, bạn cứ tiếp tục. Tuy
nhiên, người dùng thông thường chỉ gắn một card mạng thì không phải lo lắng đến bước này.
5. Tạo cầu nối mạng. Màn hình “Your computer has multiple connections” cho phép Windows thiết lập một “cầu nối” giữa các kết nối, bước này rất quan trọng trong ICS.
Nếu đã quen với kết nối mạng, bạn nhấn vào chọn lựa thứ hai. Với hầu hết người dùng, nên nhấn vào chọn lựa thứ nhất để XP tự động xác định kết nối.
6. Đặt tên máy tính cài ISC và tên mạng. Một số nhà cung cấp dịch vụ Internet đòi hỏi đặt tên riêng cho máy tính kết nối Internet (tên này được hiện trên màn hình), mặc dù điều này không cần thiết với các kiểu kết nối quay số. Nếu ISP của bạn đòi hỏi thế thì cứ giữ nguyên tên máy tính; còn không thì bạn có thể đặt bất cứ tên gì. Ở màn hình tiếp theo, bạn sẽ đặt tên cho mạng. Tất cả máy tính trong mạng phải dùng cùng một tên mạng.Bạn nên đặt tên mạng là WORKGROUP.
Màn hình kế tiếp tóm tắt các thiết lập của mạng. Nhấn Next để chấm dứt quá trình (có thể mất vài phút).
7. Tạo đĩa thiết lập mạng. Tiếp theo, bạn cần tạo một đĩa thiết lập mạng dùng để thiết lập tự động
cho các máy tính khác trong mạng cần kết nối Internet thông qua máy chia sẻ. Mặc dù có nhiều lựa chọn, nhưng dễ dàng nhất là sử dụng đĩa mềm. Hãy thực hiện theo các hướng dẫn.
8. Cài đặt các máy tính khác trong mạng. Cho đĩa mềm thiết lập mạng vào từng máy, mở My Computer, nhấn đúp chuột vào Floppy (A):, rồi nhấn đúp vào netsetup. Làm theo các hướng dẫn. Nếu gặp rắc rối bạn thử chạy lại Network Setup Wizard trên máy cài ICS
Kường™
11-07-2008, 10:25 PM
Để cho mạng Dialup chạy nhanh quả cũng không hẳn là khó chỉ cần chịu khó thực hành bằng thực tiễn . làm không được thì lại làm lại yêu cầu phải cần sự kiên trì thì mới có thành công . bài viết sau đây là một cơ sở kinh nghiệm trong nghề mà tôi rút được . chúc bạn thành công .
1 . loại bỏ chức năng auto update của windows và phần mềm có chức năng auto update .
tại sao lại phải làm vậy ?
đơn giản thôi bạn thử nghĩ mà xem nếu trong nhà bạn có 20 máy chẳng hạn khi nó update thì mạng dialup có chịu được không ? 1 máy thì chắc là không có vấn để gì nhưng cả 20 máy cùng update cùng 1 lúc thì sao . chắc chắn sẽ làm mất banwidth đường truyền mạng trở nên chậm
chú ý khi nên cài tất cả các phiên bản của Yahoo Messenger điều có chức năng autoupdate bạn nên xóa files C:\Program Files\Yahoo!\Messenger\yupdater.exe & một số các phần mềm nghe nhạc , Virus điều có chức năng bạn hãy tắt chức năng này đi .
2. loại bỏ chạy windows media player chạy trên web ==> có xem và nghe nhạc được qué đâu đúng không các bạn nếu có nghe được thì cũng giật đùng đùng khó chịu hơn thế nữa nó còn làm chậm mạng cho cả tiệm tắt chức năng đó đi là trên hết .
3. cài flash 7.0 hỗ trợ cho website . ==> bạn nên làm vậy là vì khi mình vào web mà một số trang web viết có chèn một số đoạn flash viết bằng phiên bản 7.0 khi bạn cài windows thì chỉ có 4.0 ở 98 5.0 ở xp vì thế khi lướt qua những trang này nó sẽ tự động down flash 7.0 ẩn mà chúng ta không nhìn thấy khi nó down xong nó sẽ tự động cài vào máy và đến lúc đó nó sẽ mới đọc được flash 7.0 vì thế tốt nhất bạn nên cài flash 7.0 ngay khi cài win xong . làm như vậy đỡ làm chậm mạng .
4. đường dây điện thoại không nên dài quá ==> các bạn nào đã học qua điện tử chắc cũng đã biết tín hiệu càng đi xa thì càng bị nhiễu và bị trượt tiêu bởi môi trường - từ trường vì thế đường dây điện thoại ngắn nhất vẫn là tốt nhất .
5. virus ? virus theo tôi thì không cần cài phần mềm chống làm gì cả . nó cứ kiểm soát máy mình cảm thấy máy chạy không tít cho lắm . nên cài deepfree là tốt nhất .
6. nếu modem là đời mới theo tôi bạn nên vứt cái đĩa modem đi . nên cài bản standar của windows thôi . ==> tại sao thì cũng đơn giản là vì kinh nghiệm mà ra nếu bạn không có ý kiến giống tôi thì tùy bạn thôi . tôi đã thử nghiệm đến hàng trăm ngàn lền về phần mềm cho phần cứng modem . nếu có ý kiến khác xin liên hệ ( nick : boy_****er149 )
7. khi kết nối nhà dịch vụ sẽ cho bạn 1 ip của server bạn nên ngồi bên máy chủ ping thử địa chỉ đó xem có bị ngắt quảng kết nối hay không ?
8 . bạn nên ping kết nối giữa máy con và máy chủ nếu bị ngắt quảng bạn nên kiểm tra linh kiện mạng phải đảm bảo nếu card mạng tốc độ 100 thì khi ping sẽ là time > 1ms nếu card tốc độ 10 khi ping sẽ là Time >10ms quy chế Time này còn phải dựa vào Switch đây áp dụng cho Switch 100kbps
9 . máy chủ chắc chắn phải đủ tốc độ sử lý khi tín hiệu máy con đưa tới ==> nhiều bạn cho rằng cứ máy chủ xịn tốc độ càng cao thì mạng càng nhanh . không phải đâu bạn à chỉ cần đủ tốc độ thôi bạn à ví dụ 20 máy thì nên chọn chip : 2.0 intel ram 256 . đây là còn hơi cao rồi đó .
10. nhiệt độ Modem và Hub không nên quá nóng => nhiệt độ modem & Hub trung bình nên đạt cho môi trường xung quanh nó khoảng 32 độ là oke rồi .
11. máy chủ không nên mở ứng dụng lớn như Games , Nhạch hình ...v.v.v.
12. nên cài phần mềm hỗ trợ mạng ( đứng đầu là ISA server )
13. modem thì bạn nên thử dùng nhiều loại modem đến bao giờ cảm thấy phù hợp thì thôi vì modem mỗi nơi hợp 1 loại . nhưng theo kinh nghiệm tôi cảm thấy modem modem VENR , @com đây là 2 loại modem rẻ tiền nhưng đừng khinh nhé tốc độ lúc nào cũng vượt trội . cò nếu muốn dùng cho nhiều máy nên dùng HAYES tuy tốc độ kém so với hai con trên nhưng về băng thông khi dùng nhiều máy thì hơn hẳn nếu dùng 20 trở lên nên dùng HAYES .
14 . MAIN cũng là yếu tố giúp mạng nhanh . vì nó quản lý cổng COM cho modem mà . nếu main khổng ổn định thì xác xuất bật mạng là rất lớn bạn đã bao giờ nhìn thấy máy đang kết nối mà mạng không vào được không nói kỹ hơn là vẫn vào được nhưng mà lúc vào được lúc không vào được như kiểu bị ngắt quãng . đó là hiện tươngh của MAIN không ổn định đó . theo kinh nghiệm bạn nên dùng những main sau để được kết quả tốt : hãng GIGABYTE chipset intel 845 , ALBATRON chipset intel 845 , bạn không nên dùng main đời cao như 865 trở lên vì những main này không tương thích với phần cứng modem nhưng nếu đời cao của main gigabyte là ok . mình thích gigabyte đơn giản vì công nghệ của họ rất tốt , độ bền cao , ổn định và chính xác , còn MAIN INTEL thì chuối lắm chỉ được cái bền và ổn định thôi chứ chạy thì không thoát main lắm .
15. còn cái vụ này là cái vụ cuối cùng dành cho chủ tiệm đây . kiểm soát và nhắc nhở khách hàng khi mở website có nhiều hình ảnh đặc biệt là trang SEX , nghe nhạc , nên hạn chế mở website trong giờ cao điểm nói cho khách hàng để khách hàng thông cảm vì đây là mạng Dialup
Kường™
11-07-2008, 10:28 PM
Bạn mới "tậu" được chiếc PC mới, bộ xử lý mạnh mẽ, dung lượng RAM lớn, đĩa cứng cũng lớn hơn... nhưng còn dữ liệu trên chiếc máy PC cũ thì sao?
Chuyển đổi sang PC mới và cài đặt hệ điều hành mới cũng giống như chuyển sang ngôi nhà mới, lớn hơn, đẹp hơn. Tất cả những dữ liệu mà bạn có trên PC cũ không thể bỏ đi được, chúng rất quan trọng. Nhưng làm thế nào mà di chuyển được những dữ liệu đó tới PC mới như: sổ địa chỉ, email, các dữ liệu chương trình, thư mục Farvorites, các bản nhạc số, ảnh số, các thư mục đặc biệt...
Về mặt lý thuyết, chúng ta có thể sao chép dữ liệu cũ sang máy tính mới khá đơn giản, nhưng trong thực tế thì không đơn giản như vậy. Trong một số trường hợp có thể dẫn đến hỏng hóc và không thể sửa chữa được. Bạn cho rằng sử dụng các phần mềm sao lưu dữ liệu như Norton Ghost sẽ giải quyết được vấn đề này? Không đơn giản như vậy, Norton Ghost có thể phục hồi phân vùng từ đĩa cứng này sang đĩa cứng khác, nhưng để hoạt động ổn định và hiệu quả trên PC thì lại là vấn đề khác. Hơn nữa, hệ thống Windows cũ sẽ không hoạt động trên PC mới. Tuy nhiên, một số công cụ mới cho phép bạn di dời dữ liệu này sang PC mới đơn giản. Bạn chỉ cần vài click chuột là mọi dữ liệu từ chiếc PC cũ kĩ sẽ chuyển sang PC mới nhanh chóng. Một số công cụ dưới đây sẽ biến "giấc mơ" của bạn thành hiện thực:
Files and Settings Transfer Wizard (FAST) là tiện ích có sẵn trong Windows XP, cho phép chuyển dời các thiết lập Windows, Internet Explorer, Outlook, Outlook Express...
Desktop DNA Professional (http://ca.miramar.com/) là phần mềm không những cho phép chuyển dời những thiết lập trong các chương trình như FAST mà còn có khả năng di dời các thiết lập từ các phần mềm khác.
Alohabob PC Relocator 2005 Ultra Control Edition (http://www.alohabob.com/) là phần mềm mạnh nhất. Alohabob cho phép di chuyển cả ứng dụng sang máy tính mới, mặc dù có thẻ một số ứng dụng sẽ không hoạt động tốt trên PC mới.Tất cả những công cụ này đều di dời các dữ liệu và các thiết lập trong ứng dụng như: Những tuỳ chọn, thiết lập và cấu hình, vị trí đặt thanh công cụ... Để có thể chuyển đổi một số ứng dụng hoàn hảo, các công cụ này thường được thiết kế đặc biệt hỗ trợ khả năng chuyển đổi. Hầu hết các công cụ đều đều hỗ trợ cho hàng tá những ứng dụng phổ thông từ Microsoft, Intuit tới những phần mềm xuất bản... nhưng bạn cũng nên kiểm tra trước những ứng dụng mà phần mềm di chuyển dữ liệu này hỗ trợ.
Lập kế hoạch chuyển đổi
Trước khi di dời, bạn cần chuẩn bị một số bước sau. Đầu tiên, hãy quyết định lựa chọn sử dụng phương pháp nào để chuyển đổi dữ liệu từ hệ thống này sang hệ thống khác. Lựa chọn này có thể là kết nối mạng chuẩn hoặc các thư mục chia sẻ, kết nối vật lý như: USB, cổng song song, cổng nối tiếp... hoặc qua các thiết bị sao lưu dữ liệu. Di dời dữ liệu sử dụng kết nối mạng là phương pháp nhanh và hiệu quả nhất, nếu chia sẻ tập tin thì hãy chắc chắn rằng các thư mục chia sẻ này đều có thể truy cập tốt.
Thay thế các kết nối mạng bằng phương pháp sử dụng kết nối USB 2.0 có tốc độ cao cũng đem lại hiệu quả tốt. Các phương tiện sao lưu bằng các thiết bị lưu trữ như CD-R chẳng hạn thì cũng không ảnh hưởng lớn. Tuy nhiên, nếu có một kho dữ liệu đồ sộ thì bạn cần phải ngồi đợi, đưa hết đĩa CD này tới đĩa CD khác thì rất mệt mỏi và nhàm chán.
Nếu không thể sử dụng các kết nối mạng, bạn phải sử dụng các kết nối chậm hơn và sử dụng các thiết bị sao lưu thì hãy cân nhắc xoá bớt các tập tin đính kèm lớn trong emails, các bức ảnh cũ, và tiết kiệm được càng nhiều tập tin không cần thiết càng tốt.
Tiếp theo, máy tính cũ sử dụng chế độ đa người dùng, hãy liệt kê danh sách những người sử dụng trên máy tính cũ. Các công cụ này sẽ di dời những tài khoản người dùng sẽ được tạo lại trên máy PC mới hoàn hảo. Bạn thích tính năng di chuyển các thiết lập cũ sang PC mới chứ không phải là toàn bộ ứng dụng (bạn nên sử dụng tuỳ chọn này), hãy cài đặt các ứng dụng trên PC mới trước.
Hãy nán lại vài phút để xem cả 2 PC đều đã hoạt động và thực sự sẵn sàng cho chuyển dời dữ liệu hay chưa. Một ý kiến hay là cập nhật Windows tất cả các bản vá lỗi mới nhất sử dụng Windows Update hoặc truy cập vào trang www.windowsupdate.com (http://www.windowsupdate.com/). Cập nhật các chương trình chống virus, các phần mềm chống gián điệp và quét toàn bộ cả 2 máy để đảm bảo chúng đều sạch sẽ và không chứa bất cứ mối nguy hiểm nào. Sau khi đã quét xong toàn bộ, hãy tạm thời tắt bỏ các ứng dụng thời gian thực như và cả phần mềm tường lửa, bởi chúng có thể làm gián đoạn tới quá trình chuyển dời dữ liệu. Kết nối Internet cũng nên ngắt tạm thời.
Kường™
11-07-2008, 10:29 PM
Sử dụng các công cụ di chuyển
Sử dụng FAST
FAST (Windows Files and Settings Transfer Wizard) là chương trình chỉ có khả năng di chuyển các thiết lập người dùng Windows, Internet Explorer, Outlook, Outlook Express... không cho phép chuyển dời các ứng dụng, và có rất ít lựa chọn và không có khả năng undo hoặc khả năng báo cáo chi tiết. Nhưng vì đây là phần mềm đi kèm với Windows XP nên rất tiện lợi và không phải tốn chi phí đầu tư.
FAST có thểchạy bằng 2 cách: Cách thứ nhất bạn chỉ cần đưa đĩa CD Windows XP vào ổ và chọn Perform Additional Tasks, tiếp đó chọn Transfer Files and Settings. Cách thứ hai: Start -> All Programs -> Accessories -> System Tools -> Windows Files and Settings Transfer Wizard.
FAST thực sự là một đồ thuật đơn giản, chỉ với một vài bước lựa chọn thư mục và các tập tin, thiết lập cấu hình... dữ liệu sẽ được di chuyển tới máy PC mới. FAST đơn giản, không có nhiều tính năng cao cấp, nếu muốn biết thông tin chi tiết, nhiều lựa chọn hơn thì hãy sử dụng công cụ như Desktop DNA, Alohabob
Sử dụng Desktop DNA
Desktop DNA của Computer Associates chỉ cho phép chuyển dời các thiết lập và cấu hình sẵn có chứ không phải là các ứng dụng, Desktop DNA cho phép truyền dữ liệu trực tiếp hoặc gián tiếp. Cũng giống như FAST,Desktop DNA di dời các thiết lập theo thời gian thực, diễn ra khá nhanh chóng và đơn giản.
Desktop DNA có khả năng chuyển dời gián tiếp, đây là sự thay thế tiện lợi nếu bạn không thể sử dụng 2 máy tính đồng thời. Chương trình tạo ra một tập tin thực thi được (.exe) từ hệ thống cũ và bạn có thể sao chép chúng tới hệ thống mới bằng bất cứ phương tiện lưu trữ khác. Khi nào cần thực hiện cài đặt thiết lập, chỉ cần chạy tập tin này là hoàn thành. Desktop DNA cung cấp lựa chọn các thiết lập và khả năng undo mạnh mẽ mà FAST không có.
Sử dụng Alohabob Pc Relocator
Alohabob PC Relocator 2005 Ultra Control Edition làm việc không những "ổn" như Desktop DNA mà còn có thể di chuyển rất nhiều ứng dụng. Hãy cài đặt phần mềm này trên cả máy tính cũ và mới, và thực hiện một số bước hướng dẫn cài đặt đơn giản. Nếu cả 2 máy tính này đều nối mạng thì quá trình di chuyển này thực sự rất đơn giản. Bạn chỉ cần chọn máy nguồn (source) và máy đích (target), lựa chọn chế độ truyền tự động (automatic), hãy xem xét và chấp nhận đề nghị mà chương trình đưa ra, thực hiện những bước mà phần mềm yêu cầu. Là mẫu người thích khám phá, bạn có thể lựa chọn chế độ chuẩn (Standard) hoặc chuyên gia (expert), để lựa chọn bằng tay các kiểu tập tin, thư mục, các thiết lập... hoặc các ứng dụng mà chương trình hỗ trợ. Trong chế độ chuyên gia, bạn có thể chuyển đổi toàn bộ ứng dụng tới đĩa cứng mới. Nếu gặp lỗi, PC Relocator có chức năng undo để có thể quay về các trạng thái ban đầu.
Sau khi di chuyển dữ liệu thành công
Khi hoàn thành quá trình chuyển đổi, hãy kiểm lại PC mới để đảm bảo chắc chắn quá trình di dời diễn ra tốt đẹp, đúng như mong đợi. Mặc dù các công cụ di dời thực sự đem lại khả năng di chuyển dữ liệu, ứng dụng hữu ích và đơn giản, nhưng các chương trình này không phải là những "chiếc đũa thần" hoàn hảo. Một số lỗi nhỏ có thể sẽ xuất hiện, nhưng dẫu sao những phần mềm này cũng là lựa chọn tốt cho nhu cầu của bạn.
Kường™
11-07-2008, 10:29 PM
Nhiều khi bạn loay hoay không biết làm thế nào để quay được 1 trang ngang trong cả đống trang văn bản. Hoặc cứ mỗi lần tạo một file mới bạn lại phải định dạng lại lề văn bản cho trang mặc dù kích thước lề lần trước và sau không thay đổi,… Quản Trị Mạng sẽ hướng dẫn bạn cách định dạng lề trang, quay trang ngang, trang dọc
vCăn lề văn bản
Vào File\chọn Page Setup… (Alt + F \ U)
ð Xuất hiện hộp thoại Page Setup
http://www.quantrimang.com/photos/Image/022006/23/PageSetup1.gif
Chọn thẻ Margins (Alt + M)
Điền khoảng cách lề trang, nếu bạn chưa đổi lại đơn vị tính thì đơn vị tính mặc định là inch.
Top: Lề trên
Bottom: Lề dưới
Left: Lề trái
Right: Lề phải
Header: Tiêu đề trang
Footer: Chân trang
Thông thường Header và Footer sẽ không thay đổi, mặc định để kích thước là 1,27cm đối với định dạng là trang A4
R Mirror margins: Nếu bạn muốn in 2 mặt có lề đối xứng nhau trên 1 tờ giấy
R 2 pages per sheet: Nếu bạn muốn in 1 trang thành 2 tờ giấy.
Apply to: Áp dụng cho:
Whole document: Toàn bộ file văn bản
This point forward: Áp dung cho trang sau kể từ vị trí con trỏ định vị
Sau khi đặt lại các thông số cùa lề, nếu bạn muốn thiết lập định dạng lề này cho các file văn bản sau này thì kích vào nút Default… và trả lời OK.
OK
v Quay trang dọc, trang ngang
Vào File\chọn Page Setup… (Alt+F \ U)
ð Xuất hiện hộp thoại Page Setup
http://www.quantrimang.com/photos/Image/022006/23/PageSetup2.gif
Chọn thẻ Paper Size (Alt + S)
Với phần Paper Size, Width và Height bạn nên để mặc định, 2 kích thước Width – Height bạn có thể thay đổi được, nhưng nếu thay đổi quá nhiều khi in sẽ phải chọn đúng loại và kích thước giấy, nếu không đúng văn bản in ra sẽ bị mất chữ.
Orientation: Định hướng kiểu trang
Portrait: Quay dọc
Landscape: Quay ngang
Apply to: Áp dụng cho:
Whole document: Toàn bộ file văn bản
This point forward: Áp dung cho trang sau kể từ vị trí con trỏ định vị
Sau khi đặt lại các thông số cùa lề, nếu bạn muốn thiết lập định dạng lề này cho các file văn bản sau này thì kích vào nút Default… và trả lời OK.
OK
Mẹo: Trong file văn bản có nhiều trang, bạn chỉ muốn quay ngang trang 1 hoặc 1 số trang ở giữa file văn bản:
Đặt dấu định vị con trỏ ở điểm cuối cùng ở trang trước muốn quay ngang,
Thực hiện thao tác quay ngang trang giấy lần lượt từng bước trên. Chú ý: Phần Apply to bạn cần chọn là This Point forward. Kết quả: Toàn bộ những trang sau vị trí con trỏ định vị sẽ được quay ngang.
Tiếp theo để quay dọc lại các trang sau, bạn cũng cần đặt con trỏ ở vị trí cuối cùng của trang ngang (trước trang muốn quay dọc). Thực hiện thao tác quay dọc trang giấy và Phần Apply to cũng chọn là This Point forward.
Sử dụng phím Ctrl + F2 (File \ Print Preview) để xem hình ảnh file văn bản trước khi in.
v Thiết lập tiêu đề trang, chân trang (header, footer) của trang chẵn riêng, trang lẻ riêng.
Vào File\chọn Page Setup… (Alt+F \ U)
ð Xuất hiện hộp thoại Page Setup
http://www.quantrimang.com/photos/Image/022006/23/PageSetup3.gif
Chọn thẻ Layout (Alt + L)
Chọn R Different odd and even. (Cách đặt tiêu đề trang và chân trang chúng tôi sẽ hướng dẫn tiếp trong các phần sau)
OK
v Muốn không có header, Footer ở trang đầu tiên của file văn bản
Vào File\chọn Page Setup… (Alt+F \ U)
ð Xuất hiện hộp thoại Page Setup
http://www.quantrimang.com/photos/Image/022006/23/PageSetup4.gif
Chọn thẻ Layout (Alt + L)
Chọn R Different first page.
OK
Kường™
11-07-2008, 10:32 PM
Hiện nay có rất nhiều chương trình tự động tắt máy (Auto Shutdown), tuy nhiên có một cách cực kỳ đơn giản để bạn có thể tự cài chương trình tắt máy đơn giản cho máy tính của mình trong vòng chỉ khoảng 2-5 phút mà bạn không cần phải cài đặt bất kỳ chương trình nào.
Phương pháp đơn giản này kết hợp giữa chương trình "Scheduled Tasks" (lịch làm việc tự động của Windows) và một đoạn câu lệnh đơn giản.
Khởi tạo
Đầu tiên, bạn vào trình soạn thảo Notepad của Windows và gõ vào 2 dòng lệnh sau:
cd\
shutdown/s
Sau đó bạn lưu lại tập tin này, tại ô "Save as type" bạn chọn "All Files", tên tập tin bạn gõ vào là "shutdown.bat" (bạn có thể đặt tên khác) và lưu vào thư mục "C:\Windows". (bạn có thể lưu vào nơi khác, tuy nhiên nếu không lưu vào ổ đĩa C (ổ hệ thống) bạn sẽ phải thay đổi lại đoạn câu lệnh trên:
cd\
C:
shutdown/s
Tạo lịch làm việc (tự động tắt máy)
Đặt lịch làm việc (tắt máy tính)
Vào chương trình "Scheduled Tasks" của Windows: Start\Programs\Accessories\Sytem Tools\Scheduled Tasks hoặc Start\Control Panel\Scheduled Tasks. Sau đó bạn chọn "Add Scheduled Tasks".
Click vào nút "Next" và tiếp tục chọn tập tin để Windows lên lịch làm việt tại nút "Browse". Tiếp theo chọn tập tin "shutdown.bat" mà bạn đã vừa tạo. Chọn lịch làm việc mà Windows sẽ thực hiện theo ý của bạn là hàng ngày (Daily), hàng tuần (Weekly)...
Bấm "Next" và định thời gian tắt máy tại ô "Start time", ngày bắt đầu làm việc "Start date", tiếp tục bấm "Next" và "Finish".
Thế là bạn đã hoàn tất việc lên lịch tự động tắt máy cho máy tính của mình.
http://www.quantrimang.com/photos/Image/032006/28/hieuchinhlich.jpgHiệu chỉnh lịch làm việc
Phương thức làm việc như sau: Khi đến giờ mà bạn đã định, lịch làm việc của Windows sẽ chạy tập tin "shutdow.bat" mà bạn đã tạo trong đó có đoạn câu lệnh tắt máy. Lúc này, trong vòng sau 30 giây windows sẽ tự đóng tất cả các chương trình đang chạy và sau đó sẽ tắt máy tính của bạn.
Hiệu chỉnh lịch làm việc
Sau này nếu bạn muốn hiệu chỉnh thời gian tắt máy hoặc xóa lịch làm việc này thì bạn cứ vào "Scheduled Tasks" click phải chuột vào lịch mà bạn đã đặt và chọn "Properties" và hiệu chỉnh lại theo ý của mình hoặc chọn "Delete" để xóa lịch làm việc.
Khi bạn xoá lịch làm việc nếu sau này muốn tạo lại thì bạn cứ thực hiện thao tác cài lịch làm việc cho Windows tương tự như trên.
Tuy nhiên, trong quá trình tự động tắt máy, các thông tin, dữ liệu bạn đang làm việc ở các chương trình bạn không lưu lại sẽ bị mất đi. Lịch làm việc này được dùng khi bạn tải nhiều dữ liệu từ internet về hoặc ghi hình một trận bóng đá... thì bạn cứ lên lịch tự động tắt máy và đi ngủ. Đến giờ, lịch làm việc sẽ tự động tắt máy cho bạn.
Kường™
11-07-2008, 10:34 PM
Cách tạo một bộ từ điển song ngữ trong Excel sẽ giúp bạn tự ôn luyện, làm giàu vốn từ vựng của mình khi học sinh ngữ. Còn việc tạo mục lục tra cứu sẽ giúp bạn khai thác bộ sưu tập báo, tạp chí hay tủ sách của mình một cách hiệu quả và nhanh chóng.
Excel XP có thể giúp bạn tạo một cuốn từ điển để tra từ song ngữ, ví dụ như Anh - Việt và Việt - Anh. Ngoài ra, bạn có thể dùng cuốn từ điển này để tra số điện thoại, giá cả các mặt hàng, địa chỉ các trang web... Đặc biệt khi bạn nhập sai, nó sẽ hiển thị thông báo cho bạn biết từ này không có trong từ điển. Thông qua cách làm từ điển này bạn có thể ôn luyện tiếng Anh, mỗi ngày bạn chỉ cần nhập vào chương trình 5 từ, sau 1 tháng bạn đã có 150 từ và vốn từ vựng của bạn ngày được bổ sung và hoàn thiện dần (dĩ nhiên, bạn hoàn toàn có thể nhập nhiều hơn, nếu có thời gian). Sau đây là cách thực hiện.
n Bước 1: Thiết lập công thức cho chương trình tạo từ điển
- Khởi động Excel XP.
- Tại ô có tọa độ G12 bạn nhập vào công thức dưới đây, sau đó bấm Enter:
=IF(ISNA(VLOOKUP(G11,$B: $C,2,0)),”Không có từ “””&G11&””” trong từ điển”,VLOOKUP(G11,$B:$C,2,0)).
- Bấm đôi vào ô mà bạn vừa chèn công thức, nhìn sang bên trái bạn sẽ thấy có đường xanh bao quanh 2 cột B và cột C.
- Tại cột B, bạn gõ từ tiếng Anh.
- Tại cột C, bạn nhập nghĩa tiếng Việt của từ tiếng Anh tương ứng.
- Tại cột D bạn thiết lập theo vần A, B, C, D...
http://i243.photobucket.com/albums/ff221/vnschool/lamquentinhoc/1207104876_2-2.jpg
- Tại ô có tọa độ F11 bạn gõ Từ cần tra.
- Tại ô có tọa độ F12 bạn gõ Kết quả tìm.
- Bây giờ, ví dụ bạn nhập từ OK vào ô Từ cần tra có tọa độ F11, sau đó bấm Enter bạn sẽ thấy kết quả.
- Nếu từ OK này không có trong cơ sở dữ liệu, chương trình sẽ hiện thông báo “Không có từ OK trong từ điển”.
n Bước 2: Thiết lập công thức để đếm số từ nhập vào cơ sở dữ liệu
- Tại cột A, bạn đặt con trỏ vào ô có tọa độ A13 gõ =IF(B13=””,””,1), bởi vì B13 là ô nhập dữ liệu từ đầu tiên cần tìm, bấm Enter.
- Bạn sẽ thấy ô A13 xuất hiện số 1.
- Bấm vào ô A13, đưa con trỏ vào dấu +. Bấm chuột trái kéo xuống các ô dưới trong cột A để sao chép công thức xuống các ô khác.
- Bây giờ khi nhập vào cột B một từ, bạn sẽ thấy số 1 xuất hiện trong cột A.
Giả sử bạn sao chép công thức tới ô có tọa độ A40, muốn chương trình tự đếm số từ nhập vào, bạn đặt con trỏ vào ô A41, gõ vào =SUM(A13:A40), bấm Enter. Bạn sẽ thấy tổng các từ đã nhập xuất hiện trong ô A41.
n Bước 3: Thiết lập ô thông báo số từ nhập vào
Để chương trình tự động thông báo số từ đã nhập vào, bạn làm như sau:
http://i243.photobucket.com/albums/ff221/vnschool/lamquentinhoc/1207104969_2-6.jpg - Tại ô có tọa độ F13, bạn gõ Số từ hiện có.
- Bấm vào ô có tọa độ A41 (ô mà bạn thiết lập hàm =SUM(A13:A40), bấm Ctrl+C để copy công thức tính tổng.
- Đặt con trỏ vào ô có tọa độ F13.
- Vào menu Edit > Paste Special.
- Bấm vào mục Paste Link.
Sau đó bạn hãy thực hiện việc bảo vệ với các ô công thức, và để cho người khác có thể tự do nhập số từ vào khi sử dụng từ điển.
DƯƠNG MẠNH HÙNG xuanthinhvtlt@yahoo.com
Bạn là một độc giả thường xuyên của một tờ báo hay tap chí nào đó và bạn đã lưu giữ gần như đầy đủ các số báo. Nhưng khi cần tìm một bài viết nào đó mà bạn không biết nó nằm ở số báo nào, thì chỉ còn có nước... phải lật tung đống báo lên để tìm - một công việc cực kỳ khó nhọc. Để tránh tình trạng trên xảy ra, bạo hãy tạo cho mình một mục lục để tra cứu dễ dàng hơn bằng phần mềm quen thuộc là Microsoft Excel.
http://i243.photobucket.com/albums/ff221/vnschool/lamquentinhoc/1207105001_2-6.jpg
1. CÁCH TẠO MỤC LỤC TRA CỨU: tùy theo sở thích, thời gian của mỗi người nên sẽ có các cách tạo mục lục đơn giản hoặc chi tiết.
- Cách tạo đơn giản: đầu tiên, bạn tạo mới một file excel với các cột Số báo và Mục lục, sau đó nhập tiêu đề của các bài viết ứng với từng số báo.
- Cách tạo chi tiết: cũng như cách trên, nhưng bổ sung thêm các cột: Số trang, Phân loại...; hay tạo thêm các Sheet để phân loại chi tiết hơn (ở đây dùng chuyên đề LBVMVT làm minh họa) như: Software, Hardware, Game, Hỏi & Đáp, Từ thư bạn đọc... Trong mỗi sheet bạn cũng tạo các cột như Số báo, Tên mục lục, Số trang...
2. CÁCH TRA CỨU: mở file Excel đã tạo ở trên, bấm tổ hợp phím Ctrl+F (hoặc vào menu Edit > chọn Find), hộp thoại Find and Replace hiện ra, bạn gõ nội dung cần tìm vào ô Find what và bấm Enter để cho đến khi tìm được nội dung. Muốn kết quả được chính xác hơn bạn hãy chọn nút Options để có thêm các tùy chọn tìm kiếm.
3. MẸO:
- Mỗi khi mua báo về, bạn hãy xem ngay trang đầu tiên của tờ báo để nhập nhanh các mục lục.
- Bạn có thể sử dụng cách làm của bài viết này để tạo một file tương tự để sưu tập các trang web. Với cách này, mỗi khi lướt web, bạn có thể bấm ngay vào địa chỉ đã nhập trong file Excel mà không cần gõ lại địa chỉ trang web.
- Nếu cần ghi chú chi tiết hơn cho một địa chỉ trang web trong cách trên, hay một mục lục bất kỳ thì bạn có thể dùng chức năng Insert Comment (chèn ghi chú) trong Excel để tạo ghi chú bằng cách bấm chuột phải vào mục lục cần ghi chú, chọn Insert Comment, nhập nội dung cần ghi chú.
- Dẫu biết rằng “khổ trước sướng sau”, nhưng không phải ai cũng đủ kiên nhẫn và thời gian để nhập hết các mục lục của tất cả số báo. Vì thế mà bạn có thể “liên kết” những người có cùng mục đích với mình (thông qua blog, diễn đàn trên mạng...), thống nhất với nhau về cách trình bày mục lục rồi phân công mỗi người vài số, hay vài chủ đề rồi tổng hợp lại. Hay bạn cũng có thể “đàm phán” rồi tận dụng sản phẩm của những người thân đang tập đánh máy để thực hiện mục tiêu của mình!
Kường™
11-07-2008, 10:35 PM
Bạn phải làm gì nếu như chiếc máy tính của bạn bất chợt dở chứng không đáp ứng các yêu cầu của bạn? Hay bạn không thể truy cập Internet bằng chính chiếc PC của mình nữa?
Virus máy tính hay phần mềm gián điệp (spyware) có thể là nguyên nhân gây ra những nỗi bực dọc kể trên cho dù bạn vẫn thường xuyên cập nhật ứng dụng bảo mật chống virus phần mềm độc hại được cài đặt trên PC của bạn. Vậy bạn phải làm gì khi những công cụ như thế này không được hoàn hảo cho lắm và khi mà chúng vẫn có thể để cho một vài phần mềm độc hại đột nhập vào PC của bạn.
Nếu bạn không thể truy cập vào mạng thì tốt nhất trước tiên bạn nên sử dụng các công cụ có sẵn trong Windows - ở đây chúng tôi xin ví dụ phiên bản hệ điều hành Windows XP. Bước đầu tiên là bạn nên khởi động lại PC của mình ở chế độ Safe Mode. Khởi động PC ở chế độ này sẽ ngăn cản hầu hết các phần mềm trên hệ thống khởi động cùng với hệ điều hành bao gồm cả những phần mềm có thể gây ra trục trặc cho PC của bạn, chỉ những gì cần thiết nhất để cho Windows XP hoạt động là được khởi động mà thôi. Hãy tìm các biện pháp khắc phục những trục trặc từ đây. Để có thể khởi động PC vào chế độ Safe Mode thì bạn hãy nhấn phím F8 ngay khi hệ thống của bạn bắt đầu khởi động và lựa chọn chế độ Safe Mode. Lưu ý là Windows XP sẽ khởi động chậm hơn đôi chút so với bình thường. Bây giờ bạn có thể áp dụng các biện pháp quét diệt truy tìm các phần mềm độc hại hay bất kỳ biện pháp nào đó để khôi phục lại hệ thống của mình.
Một cách nữa đưa PC trở về trạng thái bình thường là bạn có thể sử dụng tính năng System Restore của Windows XP (Start | Programs | Accessories | System Tools | System Restore). Sử dụng tính năng này bạn có thể khôi phục trạng thái của hệ thống của mình về một thời điểm nào đó trong quá khứ tại đó bạn đã tạo ra một điểm khôi phục trong System Restore. Hãy chọn thời điểm đó rồi nhắp OK sau đó là ngồi chờ đợi hệ thống khôi phục lại cho bạn.
Cách khác tốt hơn là bạn nên làm sạch danh sách các chương trình được khởi động mỗi khi Windows khởi động. Đây cũng là một trong số những cách mà phần mềm nguy hiểm khai thác để tấn công PC của bạn. Windows XP có hai ứng dụng giúp bạn kiểm tra xem những chương trình nào khởi động cùng với hệ điều hành.
Ứng dụng được xem là tốt nhất để kiểm tra các chương trình khởi động cùng hệ điều hành là System nằm trong Start | Programs | Accessories | System Tools | System Information. Khi ứng dụng khởi động bạn hãy chọn Software Environment | Startup Programs. Tại đây bạn sẽ thấy một danh sách các phần mềm khởi động cùng với hệ điều hành bao gồm đường dẫn tuyệt đối đến ứng dụng cùng với các thông số thiết lập của các chương trình đó hay chương trình đó được chạy bởi tài khoản nào trên PC của bạn, các thông số khoá Registry…
Nhưng những ứng dụng nằm trong danh sách đó là những ứng dụng nào? Nếu như hệ thống của bạn vẫn có thể truy cập Internet thì bạn có thể kiểm tra trên cơ sở dữ liệu của www.sysinfo.org còn nếu không chắc phải có một người bạn hiểu biết để giúp đỡ bạn thôi.
Đáng buồn là System Information chỉ có thể cung cấp thông tin cho bạn chứ không thể giúp bạn thay đổi những thiết lập đó. Không sao bạn còn có Windows System Configuration – đây là ứng dụng ẩn bạn chỉ có thể khởi động bằng cách vào Start | Run và gõ lệnh msconfig sau đó ấn Enter và chờ ứng dụng khởi động. Bạn chuyển sang mục Start up và bỏ dấu chọn trước những ứng dụng bạn không mong muốn chúng khởi động cùng hệ điều hành và nhắp OK. Hệ thống sẽ yêu cầu bạn khởi động lại.
Nếu như bạn không thể truy cập Internet thì vấn đề có thể nằm ở trình duyệt Internet Explorer do trình duyệt phải tải quá nhiều các ứng dụng có tên Browser Helper Objects (BHOs). Đây chính là những ứng dụng bổ sung cho trnfh duyệt như thanh công cụ bổ sung hay cái gì đó bạn kiếm được trên mạng nhằm trang điểm cho IE…
Bạn hãy thử dùng Start | Run và nhập lệnh regedit. Chờ cho ứng dụng Registry Editor khởi động xong và bạn truy cập đến khoá:
H***_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\Curr enTVersion\Explorer\Browser Helper Objects. Tại đây chứa các khoá liên quan đến các BHO bạn có thể truy cập nhờ ở PC của ai đó để kiểm trên cơ sở dữ liệu của www.sysinfo.org.
Tuy nhiên vấn đề không thể truy cập Internet có thể nằm ở chỗ khác và cần thời gian để kiểm tra và tìm phương thức khắc phục thêm. Những bước mà chúng tôi đề cập đến trong bài viết này không phải là có thể giúp bạn khắc phục toàn bộ các vấn đề mà mục tiêu của chúng tôi chỉ mong đưa ra những bước cơ bản nhất giúp cho PC của bạn có thể trở lại hoạt động bình thường.
Kường™
12-07-2008, 07:18 AM
1- [COLOR SCHEMES]
Color-scheme-name=hexadecimal-numbers
Color-scheme-name: Tên sơ đồ màu chỉ định cho DeskTop (thí dụ: Black Leather Jacket, Hotdog Stand hay Ocean). hexadecimal-numbers: Giá trị màu tính theo hệ Hex. Bạn dùng biểu tượng Color trong Control Panel để thay đổi các xác lập nầy.
Mặc nhiên: (tất cả phải trên cùng 1 dòng, không được xuống hàng)
Arizona=804000, FFFFFF, FFFFFF, 0, FFFFFF, 0, 808040, C0C0C0, FFFFFF, 4080FF, C0C0C0, 0, C0C0C0, C0C0C0, 808080, 0, 808080, 808000, FFFFFF, 0, FFFFFF
Black Leather Jacket=0, C0C0C0, FFFFFF, 0, C0C0C0, 0, 800040, 808080, FFFFFF, 808080, 808080, 0, 10E0E0E0, C0C0C0, 808080, 0, 808080, 0, FFFFFF, 0, FFFFFF
Bordeaux=400080, C0C0C0, FFFFFF, 0, FFFFFF, 0, 800080, C0C0C0, FFFFFF, FF0080, C0C0C0, 0, C0C0C0, C0C0C0, 808080, 0, 808080, 800080, FFFFFF, 0, FFFFFF
Cinnamon=404080, C0C0C0, FFFFFF, 0, FFFFFF, 0, 80, C0C0C0, FFFFFF, 80, C0C0C0, 0, C0C0C0, C0C0C0, 808080, 0, 808080, 80, FFFFFF, 0, FFFFFF
Designer=7C7C3F, C0C0C0, FFFFFF, 0, FFFFFF, 0, 808000, C0C0C0, FFFFFF, C0C0C0, C0C0C0, 0, C0C0C0, C0C0C0, 808080, 0, C0C0C0, 808000, 0, 0, FFFFFF
Emerald City=404000, C0C0C0, FFFFFF, 0, C0C0C0, 0, 408000, 808040, FFFFFF, 408000, 808040, 0, C0C0C0, C0C0C0, 808080, 0, 808080, 8000, FFFFFF, 0, FFFFFF
Fluorescent=0, FFFFFF, FFFFFF, 0, FF00, 0, FF00FF, C0C0C0, 0, FF80, C0C0C0, 0, C0C0C0, C0C0C0, 808080, 0, 808080, 0, FFFFFF, 0, FFFFFF
Hotdog Stand=FFFF, FFFF, FF, FFFFFF, FFFFFF, 0, 0, FF, FFFFFF, FF, FF, 0, C0C0C0, C0C0C0, 808080, 0, 808080, 0, FFFFFF, FFFFFF, FFFFFF
LCD Default Screen Settings=808080, C0C0C0, C0C0C0, 0, C0C0C0, 0, 800000, C0C0C0, FFFFFF, 800000, C0C0C0, 0, C0C0C0, C0C0C0, 7F8080, 0, 808080, 800000, FFFFFF, 0, FFFFFF
LCD Reversed - Dark=0, 80, 80, FFFFFF, 8080, 0, 8080, 800000, 0, 8080, 800000, 0, 8080, C0C0C0, 7F8080, 0, C0C0C0, 800000, FFFFFF, 828282, FFFFFF
LCD Reversed - Light=800000, FFFFFF, FFFFFF, 0, FFFFFF, 0, 808040, FFFFFF, 0, C0C0C0, C0C0C0, 800000, C0C0C0, C0C0C0, 7F8080, 0, 808040, 800000, FFFFFF, 0, FFFFFF
Mahogany=404040, C0C0C0, FFFFFF, 0, FFFFFF, 0, 40, C0C0C0, FFFFFF, C0C0C0, C0C0C0, 0, C0C0C0, C0C0C0, 808080, 0, C0C0C0, 80, FFFFFF, 0, FFFFFF
Monochrome=C0C0C0, FFFFFF, FFFFFF, 0, FFFFFF, 0, 0, C0C0C0, FFFFFF, C0C0C0, C0C0C0, 0, 808080, C0C0C0, 808080, 0, 808080, 0, FFFFFF, 0, FFFFFF
Ocean=808000, 408000, FFFFFF, 0, FFFFFF, 0, 804000, C0C0C0, FFFFFF, C0C0C0, C0C0C0, 0, C0C0C0, C0C0C0, 808080, 0, 0, 808000, 0, 0, FFFFFF
Pastel=C0FF82, 80FFFF, FFFFFF, 0, FFFFFF, 0, FFFF80, FFFFFF, 0, C080FF, FFFFFF, 808080, C0C0C0, C0C0C0, 808080, 0, C0C0C0, FFFF00, 0, 0, FFFFFF
Patchwork=9544BB, C1FBFA, FFFFFF, 0, FFFFFF, 0, FFFF80, FFFFFF, 0, 64B14E, FFFFFF, 0, C0C0C0, C0C0C0, 808080, 0, 808080, FFFF00, 0, 0, FFFFFF
Plasma Power Saver=0, FF0000, 0, FFFFFF, FF00FF, 0, 800000, C0C0C0, 0, 80, FFFFFF, C0C0C0, FF0000, C0C0C0, 808080, 0, C0C0C0, FFFFFF, 0, 0, FFFFFF
Rugby=C0C0C0, 80FFFF, FFFFFF, 0, FFFFFF, 0, 800000, FFFFFF, FFFFFF, 80, FFFFFF, 0, C0C0C0, C0C0C0, 808080, 0, 808080, 800000, FFFFFF, 0, FFFFFF
The Blues=804000, C0C0C0, FFFFFF, 0, FFFFFF, 0, 800000, C0C0C0, FFFFFF, C0C0C0, C0C0C0, 0, C0C0C0, C0C0C0, 808080, 0, C0C0C0, 800000, FFFFFF, 0, FFFFFF
Tweed=6A619E, C0C0C0, FFFFFF, 0, FFFFFF, 0, 408080, C0C0C0, FFFFFF, 404080, C0C0C0, 0, 10E0E0E0, C0C0C0, 808080, 0, C0C0C0, 8080, 0, 0, FFFFFF
Valentine=C080FF, FFFFFF, FFFFFF, 0, FFFFFF, 0, 8000FF, 400080, FFFFFF, C080FF, C080FF, 0, C0C0C0, C0C0C0, 808080, 0, 808080, FF00FF, 0, FFFFFF, FFFFFF
Wingtips=408080, C0C0C0, FFFFFF, 0, FFFFFF, 0, 808080, FFFFFF, FFFFFF, 4080, FFFFFF, 0, 808080, C0C0C0, 808080, 0, C0C0C0, 808080, FFFFFF, 0, FFFFFF
Các bạn chú ý: Mỗi sơ đồ màu có 21 phần cách nhau bởi dấu phẩy và 1 khoảng trắng. Mỗi phần quy định màu cho 1 chi tiết hiển thị trong Desktop. Nếu muốn nghiên cứu, các bạn dùng biểu tượng Color thay đổi màu từng chi tiết một rồi vào đây ghi nhận lại, các bạn sẽ biết được phần nào liên quan đến chi tiết nào và mỗi màu được chỉ định bằng giá trị ra sau.
2- [CURRENT]
Chỉ định sơ đồ màu hiện hành. Mặc nhiên là Windows Default color scheme.
3- [DRIVERS.DESC]
Chỉ định các driver multimedia với phần tên sau dấu = là tên sẽ xuất hiện trong danh sách liệt kê của hộp thoại Drivers.
Thí dụ:
mciwave.drv=[MCI] Sound midimap.drv=MIDI Mapper
4- [INSTALLED]
Chứa đựng thông tin về version hiện hành của Microsoft Windows và máy in.
5- [MMCPL]
Chỉ định sự liên kết của file thư viện với biểu tượng multimedia trong Control Panel.
Thí dụ: odbc=C:\WIN\SYSTEM\ODBCINST.DLL
6- [PATTERNS]
pattern-name=decimal-number
Chỉ định hoa văn dùng làm hình nền cho desktop.
pattern-name: là tên của hoa văn chỉ định trong Control Panel's Desktop dialog box. decimal-number: là số theo hệ thập phân cho 8 điểm trong 1 ô. Cách làm tương tự mục Color Schemes.
Mặc nhiên: 50% Gray=170 85 170 85 170 85 170 85
Boxes=127 65 65 65 65 65 127 0
Critters=0 80 114 32 0 5 39 2
Diamonds=32 80 136 80 32 0 0 0
(none)=(none)
Paisley=2 7 7 2 32 80 80 32
Pattern=224 128 142 136 234 10 14 0
Quilt=130 68 40 17 40 68 130 1
Scottie=64 192 200 120 120 72 0 0
Spinner=20 12 200 121 158 19 48 40
Thatches=248 116 34 71 143 23 34 113
Tulip=0 0 84 124 124 56 146 124
Waffle=0 0 0 0 128 128 128 240
Weave=136 84 34 69 136 21 34 81
7- [DON'T LOAD]
Chỉ định các biểu tượng không cho phép hiển thị trong Control Panel.
Thí dụ: snd.cpl=no joystick.cpl=no midimap.drv=no
Kường™
12-07-2008, 07:22 AM
1- [GROUPS]
Groupnumber=filename
Chỉ định số biểu tượng nhóm có trong cửa sổ Program Manager và tên file lưu trữ thông tin về nhóm đó.
Thí dụ:
Group1=C:\WINDOWS\MAIN.GRP
Group2=C:\WINDOWS\ACCESSOR.GRP
Group10=C:\WINDOWS\STARTUP.GRP
Group8=C:\WINDOWS\GAMES.GRP
2- [RESTRICTIONS]
EditLevel=number
Chỉ định mức độ cho phép thay đổi các xác lập trong Program Manager.
Number = 0 tự do thay đổi.
1 Không cho thay đổi các lịnh sau trong menu File: New, Move, Copy và Delete khi đang lựa chọn nhóm.
2 Không cho thay đổi các lịnh sau trong menu File: New, Move, Copy và Delete trong mọi trường hợp.
3 Giống như 2 nhưng cộng thêm không cho thay đổi nội dung text trong Command Line box của Properties dialog box.
4 Giống như 2 nhưng cộng thêm không cho thay đổi tất cả nội dung của Properties dialog box.
Mặc nhiên: EditLevel=0.
NoClose=0/1
Nếu giá trị = 0 cho hiệu lực lịnh Exit trong File menu và lịnh Close trong Control menu. Nếu là 1 = vô hiệu hóa các lịnh nầy. Mặc nhiên là 0.
NoFileMenu=0/1
Nếu giá trị = 0, cho hiệu lực tất cả lịnh trong File menu. Nếu = 1 là vô hiệu hóa File menu.
NoRun=0/1
Nếu giá trị = 0, cho hiệu lực lịnh Run trong File menu. Nếu = 1 là vô hiệu hóa.
NoSaveSettings=0/1
Nếu giá trị = 0, cho hiệu lực lịnh Save Settings On Exit trong Options menu. Nếu = 1 là vô hiệu hóa.
Chú ý: NoSaveSettings=1 trong đoạn nầy được ưu tiên hơn chỉ định SaveSettings= trong đoạn [Settings].
3- [SETTINGS]
AutoArrange=0/1
Chỉ định Program Manager lo việc tự động sắp xếp các biểu tượng mỗi khi bạn thay đổi kích thước. Giá trị 1 là cho tự động, giá trị 0 là không cần. Có thể thay đổi bằng cách chọn Auto Arrange trong Options menu.
display.drv=filename
Chỉ định tên của trình điều khiển màn hình. Chú ý: dòng lịnh nầy phải giống dòng lịnh display.drv= trong SYSTEM.INI.
MinOnRun=0/1
Chỉ định Program Manager tự thu nhỏ thành biểu tượng sau khi khởi động chương trình. Giá trị 0 là Off. 1 là On. Mặc nhiên là 1.
Order=number [, ...]
Chỉ định thứ tự sắp xếp nhóm trong Program Manager, đây cũng là thứ tự xoay vòng khi bạn nhấn Ctrl+Tab. Chú ý: số thứ tự nhóm phải trùng với chỉ định Groupnumber= trong đoạn [Groups].
SaveSettings=0/1
Chỉ định cho Program Manager lưu trữ các xác lập hiện hành khi thoát. 0 là Off. 1 là On. Mặc nhiên là 1.
Startup=group-name
Chỉ định nhóm nào sẽ được mở sẵn khi bạn khởi động Windows .
Window=number, number, number, number, 0/1
Chỉ định kích thước và vị trí của cửa sổ Program Manager lúc bình thường và khi phóng tối đa. Nếu số cuối = 0 là không cho phép phóng lớn cửa sổ Program Manager. 1 là cho phép.
Thí dụ: Window=64 48 576 384 1
Kường™
12-07-2008, 07:25 AM
Ổ nhớ di động USB ngày nay đã trở thành một thiết bị quen thuộc đối với những người dùng máy vi tính, để hiểu rõ hơn về USB chúng tôi xin giới thiệu những câu hỏi và những câu trả lời liên quan đến ổ nhớ di động USB.
Hỏi: Ổ nhớ USB là gì?
Đáp: Ổ USB hoạt động như một ổ cứng di động, cho phép bạn lưu trữ và di chuyển giữ liệu. Ổ nhớ USB lưu trữ lượng dữ liệu khá lớn trong kích thước tương đối nhỏ.
Hỏi: Sử dụng ổ USB như thế nào?
Đáp: Chỉ cần cắm ổ USB vào cổng USB trên máy tính của bạn. Máy tính nhận dạng ổ USB như là một ổ cứng và bạn hãy tiến hành xử lý dữ liệu (copy, dán..) như với một ổ cứng thông thường.
Hỏi: Ổ USB sẽ hoạt động trên mọi máy tính?
Đáp: Ổ USB sử dụng giao thức USB để tương thích với mọi máy vi tính để bàn (kể cả máy Mac) và các thiết bị di động hỗ trợ cổng USB. USB thường dùng để lưu trữ như các ổ cứng di động và tương thích với Windows Me, Windows 2000, Windows XP, Mac OS 9 và Mac OS X hay hệ điều hành mới như Linux 2.4.6 hoặc những phiên bản mới đây nhất. Một số công ty cũng sản xuất loại USB có thể tương thích với hệ điều hành Windows 98 SE hay Windows NT. Công ty Apple cũng đã tung ra thị trường ổ USB đã được nâng cấp dùng cho máy MacOS 8.6
Hỏi: Ổ USB có thể lưu trữ được bao nhiêu dữ liệu?
Đáp: Hiện dung lượng ổ USB có thể lưu trữ được tối đa vài GB dữ liệu và có rất nhiều loại cho những nhu cầu khác nhau. Chẳng hạn, một ổ USB dung lượng 2 GB có thể lưu trữ được 250 bài hát MP3.
Hỏi: Sử dụng ổ USB thay cho ổ ghi đĩa CD-R hay DVD-R có lợi gì?
Đáp: Sử dụng ổ USB sẽ tiện dụng hơn ổ ghi đĩa CD hay DVD rất nhiều vì ổ USB tương thích với nhiều loại máy vi tính hơn là CD-R hay DVD-R. Cũng như, việc copy dữ liệu từ máy tính sang ổ USB nhanh và đơn giản hơn rất nhiều so với so với việc ghi dữ liệu sang đĩa CD và DVD.
Ngoài ra, ổ USB cho phép bạn ghi và xoá dữ liệu nhiều lần. Trong khi ghi bằng đĩa CD hay DVD chỉ cho phép bạn ghi một lần không thể xoá dữ liệu đã ghi trong đĩa.
Hỏi: Sử dụng ổ USB có lợi gì so với ổ cứng ngoài?
Đáp: Ổ USB có kích thước nhỏ hơn, vận chuyển thuận tiện hơn và độ bền cao hơn rất nhiều so với ổ cứng ngoài. Hơn nữa ổ USB chỉ việc cắm vào cổng USB là có thể sử dụng trong khi ổ cứng ngoài phâỉ mất nhiều thời gian thay đổi cấu hình để tương thích với máy vi tính.
Hỏi: Ổ USB dùng cho đối tượng nào?
Đáp: Ổ USB dùng cho mọi đối tượng nhờ kích thước nhỏ gọn và tính tiện ích trong di chuyển cũng như dễ dàng trong việc chia sẽ thông tin. Bạn chỉ cần khởi động máy máy là có thể sử dụng được ổ USB.
Hỏi: Tôi có cần dùng ổ USB không?
Đáp: Nếu bạn thực sự cần chia sẻ thông tin giữa các máy tính, hay muốn lưu trữ những dữ liệu quan trọng nhất trong máy tính của bạn thì bạn nên sử dụng ổ USB. Với ổ USB, bạn có thể gửi một tệp tin PowerPoint tới khác hàng để trình chiếu, soạn thảo văn bản ở nhà và có thể mang đến cơ quan để tiếp tục công việc, có thể gửi hàng nghìn bức ảnh trên khắp đất nước tới người thân của bạn và rất nhiều chức năng khác nữa.
Hỏi: Có nhiều công ty sản xuất ổ USB không? Đó là những công ty nào?
Đáp: Có rất nhiều công ty khác nhau sản xuất và bán ổ USD như Lexar Media Inc, Kingston Technologies, SimpleTech, PNY Technologies, Viking InterWorks….
Hỏi: Ổ USB giá bao nhiêu?
Đáp: Giá rất đa dạng và còn tuỳ thuộc vào nhà sản xuất cũng như dung lượng chứa của ổ USB.
Hỏi: Tôi đang cần tìm một ổ USB có thể tương thích với hệ điều hành Linux OS.
Đáp: Đa số các ổ USB đều tương thích với các phiên bản mới của hệ điều hành Linux. Nếu máy bạn không nhận USB thì hãy kiểm tra lại cấu hình.
Hỏi: Ổ USB có bị ảnh hưởng bởi công nghệ an ninh ở sân bay không?
Đáp: Nhìn chung, ổ USB là thiết bị an ninh sân bay. Tuy nhiên, nó còn tuỳ thuộc vào độ ổn định của thẻ nhớ được sử dụng trong thiết bị di động. Hãy kiểm tra chi tiết kỹ thuật của nhà sản xuất.
Hỏi: Làm cách nào để bảo vệ máy tính không bị nhiễm virus khi sử dụng ổ USB
Đáp: Thông thường, cách tốt nhất để bảo vệ máy tính của bạn không bị nhiễm virus khi sử dụng ổ USB là sử dụng các phần mềm chống virus như chặn tường lửa, phần mềm quét virus hay các chương trình ngăn chặn virus khác. Cách tốt nhất phòng chống virus là quét virus trước khi mở dữ liệu trông ổ USB.
Hỏi: Tải phần mềm điều khiển USB (USB driver) ở đâu để có thể sử dụng ổ USB trong máy tính cũ hơn?
Đáp: Hầu hết các ổ USB đều tương tích với hệ điều hànhWindows ME, Windows 2000 và Windows XP. Để có thể tương thích với Windows 98 SE, ổ USB cần phải có một phần mềm điều khiển, thường là lấy từ nhà sản xuất dịch vụ hỗ trợ khách hàng hoặc website của nhà sản xuất.
Hỏi: Làm thế nào để tạo đĩa khởi động (boot) bằng USB?
Đáp: Có 3 yếu tố để tạo USB thành đĩa khởi khởi động: Máy tính phải hỗ trợ khởi động từ ổ USB (kiểm tra hệ thống của nhà sản xuất); Ổ USB phải hỗ trợ khởi động; Ổ USB phải chứa những file hệ thống giúp khởi động máy.
Hỏi: Có ổ USB dùng để bảo mật thông tin không?
Đáp: Ổ USB dùng bảo mật thông tin được cung cấp bởi nhiều nhà kinh doanh với nhiều đặc điểm và chức năng khác nhau. Thông thường, ổ USB bảo mật thông tin được chia làm 2 phần, 1 phần dùng chung và một phần dùng cho cá nhân. Phần dùng chung cho phép mọi người truy cập vào còn phần dành cho cá nhân thường được bảo mật thông qua đặt password hoặc công nghệ mã hoá.
Hỏi: Khi dữ liệu quan trọng trong ổ USB khi bị mất, làm thế nào để khôi phục lại dữ liệu đó?
Đáp: Bất cứ khi nào dữ liệu bị mất do xoá hay lỗi thì ngay lập tức phải dừng sử dụng ổ USB và thử khôi phục dữ liệu bằng những phần mềm khôi phục như: Image Rescue 2 hoặc Image Recall 2…, các phần mềm này được bán tại cá cửa hàng bán lẻ máy tính.
Hỏi: Có thể rút hoặc cắm USB khi máy tính đang chạy?
Đáp: Tính năng này, còn được gọi là hot-swap, được đa số các nhà sản xuất ổ USB hỗ trợ.
NGUYỄN VĂN LỘC
12-07-2008, 07:47 AM
Chú ý: Nếu không thể tạo được một đĩa khôi phục mật khẩu và lại quên mật khẩu của tất cả các tài khoản người dùng, bạn sẽ không thể đăng nhập vào Windows hiện thời vì lý do an toàn. Thông tin này áp dụng để khởi động vào Windows XP từ chế độ Safe mode và Recovery Console. Trong trường hợp này, bạn phải thực hiện việc “xóa” cài đặt của Windows XP, tạo lại toàn bộ tài khoản người dùng và sau đó là cài đặt lại các chương trình cần thiết.
Để đăng nhập vào Windows XP, sử dụng một trong những cách sau đây:
Cách 1: Sử dụng đĩa khôi phục lại mật khẩu
Nếu bạn đã tạo một đĩa khôi phục mật khẩu cho Windows XP, hãy xác lập lại mật khẩu bằng cách sử dụng đĩa đó.
Để có thêm thông tin về cách sử dụng đĩa khôi phục lại mật khẩu, bạn các bài tương ứng sau:
- Tạo và sử dụng đĩa khôi phục mật khẩu cho máy tính là thành viên miền trong Windows XP
- Tạo và sử dụng đĩa khôi phục mật khẩu cho máy tính không phải thành viên miền trong Windows XP
Cách 2: Đăng nhập vào với quyền quản trị viên (Administrator) để đặt lại mật khẩu
Nếu bạn không thể đăng nhập vào Windows bằng cách sử dụng tài khoản người dùng cụ thể (bao gồm cả các tài khoản Administrator và Computer Administrator), thì vẫn có thể đăng nhập với một tài khoản khác cũng có khả năng quản trị bằng cách làm theo những bước sau:
Windows XP Home Edition hoặc Windows XP Professional
1. Đăng nhập vào Windows bằng cách sử dụng tài khoản quản trị viên, tài khoản mà bạn phải nhớ mật khẩu
Chú ý: Bạn không thể đăng nhập như thường xuyên sử dụng tài khoản Administrator hay Computer Administrator với máy tính nền tảng Windows XP Home Edition hoặc Windows XP Professinal trong một nhóm làm việc. Để đăng nhập vào với quyền Administrator hoặc Computer Administrator, bạn phải khởi động Windows XP trong chế độ Safe mode.
a. Khởi động lại máy tính
b. Nhấn phím CTRL + ALT + DELETE hai lần và sau đó nhập vào tên của tài khoản quản trị (thường là administrator)
c. Trong hộp Password, nhập vào mật khẩu của quản trị viên sau đó kích OK
Chú ý: Nếu mật khẩu của tài khoản quản trị là trống thì không gõ gì trước khi nhấn OK
2. Kích vào Start, chọn Run.
3. Trong phần Open, nhập vào dòng lệnh sau và kích OK:
control userpasswords2
4. Kích vào tài khoản người dùng mà bạn quên mật khẩu, và sau đó kích vào Reset Password.
5. Gõ mật khẩu mới trong New password và Confirm new password, sau đó kích OK.
Cảnh báo: Nếu bạn đặt lại mật khẩu cho tài khoản người dùng trong Windows XP Professional, những thông tin sau đây cho người dùng không còn nữa:
Thư điện tử đã được mã hóa.
Mật khẩu được lưu lại trên internet hoặc nhớ trong máy tính
Mọi file đã được người dùng mã hóa
Giờ thì bạn có thể đăng nhập vào Windows với tài khoản người dùng và mật khẩu mới. Những phần sau sẽ từng bước hướng dẫn để tạo lại mật khẩu cho một tài khoản điển hình trong chế độ Safe Mode bằng cách sử dụng Administrator (hoặc Computer Administrator).
Windows XP Home Edition hoặc Windows XP Professional trong nhóm làm việc
Đăng nhập vào với vai trò Administrator và đặt lại mật khẩu, thực hiện các bước sau:
1. Khởi động lại máy tính, sau đó Power On Self Test (POST), nhấn phím F8.
2. Trên menu Windows Advancek Options, sử dụng các phím mũi tên để lựa chọn Safe mode (chế độ an toàn), và sau đó ấn phím enter.
3. Khi có dấu nhắc để lựa chọn hệ điều hành khởi động, bạn hãy lựa chọn Microsoft Windows XP edition(edition là phiên bản của Windows XP đã cài), và sau đó ấn phím Enter.
4. Trên màn hình To begin, click your user name, kích vào Administrator.
5. Gõ vào mật khẩu quản trị viên, sau đó ấn phím enter.
Chú ý, trong vài trường hơp, mật khẩu Administrator có thể thiết lập một mật khẩu trống. Trong trường hợp này, không cần gõ mật khẩu trước khi ấn phím Enter.
6. Kích Yes để đồng ý Windows chạy ở chế đô an toàn.
7. Kích vào Start, chọn Control Panel (hoặc vào Settings, sau đó kích vào Control Panel).
8. Kích vào User accounts.
9. Kích vào tài khoản người dùng có mật khẩu bạn muốn đổi
10. Kích vào Change the password nếu bạn muốn giữ lại mật khẩu, hoặc chọn Remove password nếu không muốn sử dụng password. Nếu gỡ bỏ mật khẩu, thì bỏ qua bước 11.
11. Gõ mật khẩu mới dành cho người dùng, và chọn Change Password.
12. Đóng công cụ User Accounts, sau đó khởi động lại máy tính
Windows XP Professional trong một vùng
Đăng nhập vào với quyền Administrator để đặt lại mật khẩu, làm theo những bước sau:
1. Trong hộp thoại Welcome to Windows, nhấn tổ hợp phím Ctrl + Alt + Delete.
2. Gõ vào thông tin đăng nhập cho tài khoản Administrator, gồm cả mật khẩu, sau đó kích OK.
Chú ý mật khẩu Administrator có thể thiết lập một mật khẩu trống. Trong trường hợp này, không gõ mật khẩu trước khi chọn OK.
3. Kích Start, chọn Run, gõ compmgmt.msc, sau đó kích vào OK.
4. Trong hộp thoại Computer Management (Local), mở rộng Local Users and Groups.
5. Kích vào thư mục Users
6. Trong phần bên phải của cửa sổ Computer Management, kích đúng vào tài khoản người dùng của mật khẩu bạn muốn đặt lại, sau đó chọn Set Password.
7. Kích vào Proceed.
8. Trong hộp New password, gõ mật khẩu mới cho tài khoản người dùng.
9. Gõ lại mật khẩu trong hôp thoại Confirm password, và chọn OK
10. Kích vào OK để mật khẩu mới được thiết lập.
11. Thoát khỏi Comuter Management, sau đó khởi động lại máy tính.
Theo microsoft
NGUYỄN VĂN LỘC
12-07-2008, 07:54 AM
Cách boot máy vào safe mode
Boot vào safe mode là một trong những bước quan trọng trong quá trình diệt virus, sở dĩ người ta cần boot vào safe mode là để loại bỏ những chương trình chạy khởi động cùng windows (ở đây mục tiêu chính thường là virus). Bài viết này được dịch lại để cho mọi người có cái nhìn rõ hơn về cách sử dụng chế độ này.
1 Cho người sử dụng Windows 95:
Để có thể boot vào chế độ safe mode, khi máy đang khởi động, khi bạn nghe thấy một tiếng beep hoặc nhìn thấy dòng chữ thông báo "Starting Windows 95" thì hãy nhấn phím F8 ở phía trên cùng của bàn phím. Nếu bạn làm đúng các bước trên thì bạn sẽ thấy bảng lựa chọn sau:
http://i35.photobucket.com/albums/d172/captain_lat/SafeModeAndSystemRestore/SafeMode01.png
Trong bảng này, bạn dùng phím mũi tên lên xuống để cho con trỏ đánh dấu vào lựa chọn thứ 3 rồi nhấn enter để khởi động vào safe mode.
2 Cho người sử dụng Windows 98 và ME:
Để có thể khởi động Windows 98/ME vào chế độ safe mode, trong quá trình khởi động máy bạn cần phải giữ phím F8 ở phía trên cùng bàn phím hoặc là giữ phím Ctrl ở phía bên trái hoặc phải bàn phím khi máy khởi động. Nếu bạn làm đúng các bước trên thì sẽ được chuyển đến bảng lựa chọn "Windows 98 / ME Startup Menu" giống như trong hình ở dưới đây, việc còn lại của bạn là dùng phím mũi tên để di chuyển vạch đánh dấu và chọn lựa chọn thứ 3 bằng cách nhấn Enter khi vạch đánh dấu nằm ở lựa chọn đó.
http://i35.photobucket.com/albums/d172/captain_lat/SafeModeAndSystemRestore/SafeMode02.png
Chú ý: Ở một số máy thì khi bạn nhấn giữ phím F8 hoặc Ctrl, máy sẽ thông báo là bàn phím bị "tắc", nếu nhận được thông báo như vậy, thay vì nhấn giữ F8 hoặc Ctrl, bạn nháy phím đấy liên tục để có được kết quả tương tự.
3 Cho người sử dụng Windows 2000 / XP:
Mẹo: Nếu bạn chạy chế độ safe mode vì bạn không thể khởi động máy vào chế độ bình thường của Windows (normal mode) thì bạn nên thử bằng việc chọn "last known good configuration" rồi khởi động vào chế độ bình thường của máy.
Để có thể khởi động Windows 2000/XP vào chế độ safe mode, khi máy khởi động bạn cần nhấn giữ phím F8 để được chuyển vào "Windows Advanced Options Menu" như hình ở dưới. Bạn dùng phím mũi tên lên xuống để di chuyển dấu con trò về "Safe Mode" và nhấn Enter để khởi động vào chế độ này.
http://i35.photobucket.com/albums/d172/captain_lat/SafeModeAndSystemRestore/SafeMode03.png
Chú ý: Ở một số máy thì khi bạn nhấn giữ phím F8 hoặc Ctrl, máy sẽ thông báo là bàn phím bị "tắc", nếu nhận được thông báo như vậy, thay vì nhấn giữ F8 hoặc Ctrl, bạn nháy phím đấy liên tục để có được kết quả tương tự.
Khi bạn với nhiều lần thử không thể nào vào được chế độ safe mode thì bạn có thể khởi động vào chế độ bình thường của máy và nhấn nút tắt máy, khi đó Windows nhớ rằng bạn đã không tắt máy một cách hoàn thiện và ở lần khởi động sau nó sẽ "bắt" bạn khởi động ở chế độ Safe Mode.
4 Cho người sử dụng Windows Vista:
Các bước tương tự như với Windows 2000/XP với Menu sau:
http://i35.photobucket.com/albums/d172/captain_lat/SafeModeAndSystemRestore/SafeMode04.png
Một chút về các chế độ Safe Mode:
Users who are running later versions of Windows will get several different options for different types of Safe Mode. For example, you may have options for "Safe Mode", "Safe Mode with Networking", and "Safe Mode with Command Prompt". Below is a brief description of each of these different modes.
Với những người sử dụng các hệ điều hành Windows về sau này có một vài lựa chọn để khởi động vào safe mode. Ví dụ trong menu hiện ra có thể được lựa chọn "Safe Mode", "Safe Mode with Networking", và "Safe Mode with Command Prompt". Dưới đây là một vài giới thiệu ngắn gọn về các chế độ này:
* Safe Mode:
Là chế độ cơ bản của Safe Mode và thường được người sử dụng lựa chọn. Nó là chế độ cơ bản nhất của Safe Mode và không có một hỗ trợ nào.
* Safe Mode With Networking:
Cho người sử dụng muốn sử dụng Internet và mạng nội bộ mà người đó đang kết nối trong chế độ Safe Mode thì chế độ này là chế độ cần chọn. Trong chế độ này, người sử dụng có thể vào internet để tìm kiếm, cập nhật và tải các tệp tin về trong quá trình sửa chữa lỗi của máy.
* Safe Mode With Command Promt:
Trong chế độ Safe Mode này thì người sử dụng chỉ có thể sử dụng chế độ dòng lệnh để làm mọi thứ (MS-DOS Promt).
Thank-Zhaoyun
NGUYỄN VĂN LỘC
12-07-2008, 07:56 AM
Một cách để ghost cho mọi máy
Mặc định Ghost chạy trên máy có cấu hình khác nhau
Nguyên nhân khiến tập tin ghost Windows XP thường “máy nào chạy máy nấy” là khi cài Windows XP trên máy bất kỳ, nó đều tự động thiết lập thông số các tập tin cấu hình đúng theo đặc trưng phần cứng của máy đó. Khi mang sang máy khác, có đặc trưng phần cứng khác, nó không thể chạy được vì không thể quản lý được phần cứng mới và cũng không có khả năng tự động thiết lập lại cấu hình phần cứng như Windows 9x. Để khắc phục nguyên nhân này, chúng ta sẽ dùng bộ công cụ System Prepairation Tool đi kèm theo đĩa cài đặt Windows XP để xóa bỏ tập tin cấu hình phần cứng trong Windows XP trước khi ghost.
Bước 1: Bạn đưa đĩa CD cài đặt Windows XP vào, tìm đến thư mục \SUPPORT\TOOLS. Giải nén toàn bộ tập tin DEPLOY.CAB vào thư mục C:\SYSPREP (với C: là ổ đĩa cài đặt Windows XP của bạn). Nếu máy bạn có cài đặt WinZip, nhấn phải chuột vào tập tin DEPLOY.CAB, chọn WinZip\ Extract to -> gõ vào C:\SYSPREP rồi nhấn OK.
Bước 2: Chuyển đến thư mục C:\SYSPREP, chạy tập tin SETUPMGR.EXE để tạo ra tập tin trả lời tự động cho quá trình cài đặt sau này. Nhấn Next -> chọn mục Create a new answer file -> chọn Sysprep install. Chọn bản Windows XP bạn sẽ dùng (Home hay Professional), đánh dấu vào Yes, fully automate the installation. Bây giờ chương trình sẽ yêu cầu bạn điền các thông tin giống như khi bạn cài đặt Windows XP. Nhấn Next để điền các thông tin. Bạn chú ý khai báo các phần bắt buộc sau đây: mục Customize the Software và Providing the Product k e y (***** của Windows XP) trong thẻ General Setting, mục Computer Name (tên máy tính) trong thẻ Network Setting.
Khi điền xong nhấn Next, máy sẽ hỏi bạn lưu thông tin vào đâu, bạn gõ vào: C:\Sysprep\sysprep.inf rồi nhấn OK. Đóng cửa sổ chương trình đang chạy lại.
Bước 3: Lấy đĩa CD cài đặt Windows XP ra, đưa đĩa CD có khả năng boot về DOS thực và chứa chương trình Ghost vào.
Bước 4: Chạy tập tin sysprep.exe trong thư mục C:\SYSPREP, nhấn OK khi gặp thông báo. Bạn đánh dấu vào mục Mini Setup và PnP (chức năng Plug & Play: tự động dò tìm và cài đặt phần cứng). Trong phần Shutdown, chọn Reboot. Sau đó nhấn Reseal. Máy tính sẽ khởi động lại.
Bây giờ, sau khi máy tính khởi động lại về dấu nhắc DOS. Bạn chạy chương trình Ghost có trên CD để tạo tập tin Ghost Windows XP. Tập tin Ghost này có thể chạy trên mọi máy tính có cấu hình khác nhau. Khi bung tập tin Ghost này ra và chạy Windows XP, nó sẽ tự động chạy chương trình Mini Setup để xác lập lại các thông số về phần cứng cho phù hợp với mỗi máy.
Thank-Zhaoyun
Kường™
12-07-2008, 08:45 AM
Sự tương thích của RAM đối với hệ thống phụ thuộc vào các yếu tố sau:
1. Tốc độ của bus hệ thống: Nói một cách giản thì bus là thuật ngữ dùng để chỉ đường dẫn dữ liệu từ CPU đến RAM và các bus AGP, IDE trong hệ thống. Tốc độ này được quyết định bởi CPU. Lưu ý rằng tốc độ làm việc của CPU là một bội số của tốc độ bus. Ví dụ một CPU Pentium III có tốc độ 866MHz, bus 133MHz thì tốc độ làm việc làm việc của nó là gấp 6.5 lần của tốc độ bus (866MHz = 133MHz * 6.5). Để có sự tương thích tốt thì tốc độ bus cho phép của RAM phải lớn lơn hoặc bằng tốc độ bus hệ thống. Có như thế thì dữ liệu không bị dồn cục khi chuyển từ RAM đến CPU xử lý.
2. Sự hỗ trợ của RAM bởi chipset của mainboard. Vì chipset có vai trò quản lý mọi nhập xuất dữ liệu trên mainboard và mỗi loại RAM có một các thức chuyển tải dữ liệu khác nhau do đó ứng với mỗi loại RAM thì có một loại chipset hỗ trợ loại RAM đó. Chipset còn đóng vai trò quản lý và hỗ trợ cho việc chuyển tải dữ liệu giữa CPU và RAM. Chẳng hạn như nhờ có chipset tương thích mà một số CPU hiện nay cho phép tốc độ bus của nó cao hơn tốc đô bus hệ thống, để cho việc xử lý nhanh hơn (ví dụ như Pentium 4 mặc dù có bus là 400MHz nhưng vẫn có thể chạy trên hệ thống có bus là 133MHz hay 266MHz, miễn là có chipset hỗ trợ).
Nói chung hiện nay trên thị trường có 3 loại RAM được sử dụng cho các máy IBM AT-PC (desktop, labtop):
1. SDRAM (Static Dynamic RAM): Loại RAM này có thể hoạt động ở các tốc độ bus 66MHz, 100MHz và 133MHz. Đây là loại RAM phổ biến nhất dùng cho các CPU Pentium II, Pentium III, AMD K6/2, kể cả Duron và Athlon. Các SDRAM sử dụng loại ổ cắm (socket) DIMM (Dual In-line Memory Module), các socket này có 2 hàng chân để lấy dữ liệu từ thanh RAM. Các chipet sau hỗ trợ SDRAM:
Intel: 440EX/LX/BX; i810, i815, i845
AMD: 751
VIA: Appolo 133, KT133
2. DDRAM (Double Data-rate RAM): Loại RAM này thực chất là SDRAM nhưng có tốc độ gấp đôi so với SDRAM (266MHz) và tương thích với các CPU có tốc độ bus cao như AMD Duron (200MHz), Athlon (266MHz) và Intel Pentium 4 (400MHz hay 533MHz). DDRAM cũng sử dụng các socket DIMM. Các chip set sau hỗ trợ DDRAM:
Intel: i845, i845E
AMD: 761
VIA: KT266, KT333
3. RDRAM (Rambus Dynamic RAM) Đây là loại RAM có tốc độ cao nhất hiện nay do hãng Rambus USA đưa ra nhằm hỗ trợ tốt nhất các CPU Pentium 4 (tốc độ bus 400MHz và 533MHz) của Intel. RDRAM có tốc độ bus hơn 800MHz và sử dụng loại socket đặc biệt gọi là RIMM (Rambus In-Line Memory Module). Các socket này chỉ có một hàng chân nên đòi hỏi phải có 2 thanh RDRAM cài đặt vào mainboard một lúc và giá thành thì cao hơn SDRAM và DDRAM. Hiện nay chỉ có 2 các chipset i850, i860 là hỗ trợ RDRAM mà thôi.
Nhìn chung RAM cùng loại (SDRAM hay DDR hay RAMBUS) và cùng tốc độ thì sẽ thương thích với nhau (dung lượng không quan trọng lắm). Tuy nhiên nếu chúng cùng nhà sản xuất thì sự tương thích này sẽ tốt hơn. Ngoài ra mỗi motherboard sẽ có một yêu cầu về RAM (ở đây dung lượng cần phải được tính đến), tuy nhiên, hầu hết các yêu cầu này đều giống nhau ở các motherboard sử dụng cùng loại RAM hoặc cùng chipset. Vì có rất nhiều tên hiệu cho RAM cũng như cho motherboard nên việc nếu cụ thể tên và mức độ tượng thích của chúng là không làm được.
Kường™
12-07-2008, 08:52 AM
1. Driver verifier: Có bao giờ bạn tự hỏi rằng các Driver được cài đặt có làm việc thật tốt? Rằng nó thuộc phiên bản cũ hay mới? Liệu rằng phiên bản mới sắp cài đặt, nó có ổn định như phiên bản cũ hay không? Nếu không chắc thì bạn hãy nhờ đến tiện ích này trong WINDOWS Xp Professional
Cách thực hiện: Bạn vào Start - > Run, tại cửa sổ Open gõ: Verifier
Bảng Driver Verifier Manager xuất hiện:
Tiếp đó chọn 1 trong 5 thiết định muốn kiểm tra
Bạn không cần quan tâm đến mục chọn Create Custom settings (for code developers) trừ khi bạn là người tạo ra driver và muốn kiểm tra mà thôi.
Bằng không thì bạn chọn : Create standard settings khi đã sẵn sàng thì Click Next.
- Automatically select unsigned drivers: Tự động kiểm tra những Driver không được nhận diện
- Automatically select drivers built for older versions of Windows: Tự động kiểm tra Driver đã tạo ra cho phiên bản cũ hơn(so với phiên bản hiện thời) của Windows
- Automatically select all drivers installed on this computer: Tự động kiểm tra tất cả các Driver đã được cài đặt vào máy
- Select drivers names from a list: Lựa chọn driver trong danh sách
Cuối cùng là danh sách hiển thị tương ứng với tùy chọn trên(Hình 3). Ở đây là danh sách những Driver không được nhận diện (unsigned)
- Lưu ý: Đối với hệ điều hành WINDOWS Xp Service Pack 1, việc thực hiện có thể sẽ không khởi động vào Windows do Driver xung đột. Với trường hợp này bạn khắc phục như sau:
· RESTART lại máy
· An phím F8 khi được yêu cầu -> Một danh sách hiện ra, bạn chọn: LAST KNOWN GOOD trong danh sách đó
Việc khởi động lại WINDOWS sẽ trở lại bình thường
2. System file checker(SFC): Đây là 1 tiện ích rất hay có sẵn trong Windows Xp professional. Bất cứ khi nào bạn muốn kiểm tra các file đã cài đặt. Tự hỏi rằng không biết các file, folder đó có thực hiện tốt công việc không? Hoặc khi máy có sự cố với các file vì 1 lý do nào đó gây nên. Thì hãy áp dụng tiện ích này. Công việc của SFC là rà soát và thay thế những file hỏng, lỗi…
Hầu hết các file mà SFC kiểm tra là EXE, DLL, TTF, SYS, FON…
Lưu ý: Thực chất đây là 1 quá trình so sánh file hiện có với file gốc trong đĩa cài đặt windows Xp nên bạn cần đưa đĩa vào khi quá trình quét file bắt đầu
Cách thực hiện:
Vào Start -> Run gõ: cmd.
Bảng đen ngòm và xấu xí hiện ra bạn gõ tiếp: SFC vào dấu nháy
1 danh sách hiện ra:
/SCANNOW Quét hết các file hệ thống ngay tức thì.
/SCANONCE Quét hết các file hệ thống vào lần khởi động kế tiếp.
/SCANBOOT Quét hết các file hệ thống mỗi khi khởi động máy.
/REVERT Đưa quá trình quét file về dạng mặc định.
/PURGECACHE Thanh lọc các file CACHE
/CACHESIZE=x Đặt lại kích cỡ cho file CACHE
bạn chọn 1 mục tương ứng. Ví dụ:
C:\>sfc/scannow
(Lúc này cần insert đĩa cài đặt Windows Xp)
Bảng WINDOWS FILE PROTECTION xuất hiện (Hinh 4)tiến độ kiểm tra file bắt đầu. Khi gặp file, folder bị trục trặc, SFC có nhiệm vụ tìm ra và thay thế
3. Backup - Restore : Lưu trữ - phục hồi
Việc sao chép file cho máy tính cực kỳ quan trọng, có thể nói là không thể thiếu bới tất cả các file quan trọng của bạn vì 1 lý do nào đó sẽ …“tan thành bọt nước”. Lúc đó dở khóc dở cười.
Bạn có thể sử dụng nhiều phần mềm cho việc sao chép đạt hiệu quả(Phổ biến là Norton Ghost 2003 ).Nhưng nếu chưa có hoặc chưa thành thạo Norton ghost 2003 bạn có thể sử dụng chức năng lưu trữ phục hồi có sẵn ngay trong Windows Xp Professional
A. Backup: Tạo file phục hồi(Backup) khi hệ thống trục trặc.
Lưu ý: Để thực hiện được công việc này bạn phải đăng nhập với quyền Administrator hoặc bạn phải là người sở hữu các file, folder muốn lưu trữ (Backup)
Cách thực hiện:
Start -> Program -> Accessories -> System tools -> Backup -> Next
Bảng Backup or Restore winzard xuất hiện
Chọn Back up files and settings -> Next(Chọn các Item mà bạn muốn Backup trong What to Back Up rồi nhấp Next
Bạn cần chọn ổ đĩa chứa file Backup bằng cách click Browse(chương trình luôn được mặc định là ổ A)
Phần: Type a name for this backup –đặt tên cho file BACKUP
Click Next -> Finish để bắt đầu thực hiện công việc tạo file sao lưu(
Khi gặp sự cố với file hay folder này bạn muốn “bung” file backup này trở lại bạn làm như sau:
Start -> Program -> Accessories -> System tools -> Backup -> Next
Trong bảng Backup or Restore(Hinh 5) chọn: Restore files and settings.
Bạn tìm đền nơi “cất” file BACKUP, sau đó nhấp NEXT để phục hồi
B. Restore: Phục hồi lại hệ thống tại 1 thời điểm định sẵn hoặc thời điểm gần nhất. Để thực hiện được chức năng này bạn phải chắc rằng SYSTEM RESTORE đang họat động
Vào Start -> Program -> Accessories -> System tool -> System Restore(
Chọn Create a restore point: Đánh dấu ra thời điểm phục hồi
Click Next để tiếp tục:
Gõ 1 tên tùy ý vào: Restore point desciption mục đích là để ta đánh dấu thời điểm cần phục hồi(hình 9)
Thực hiện xong bạn click Home để quay trở lại bảng System Restore ban đầu
Chọn Restore my computer to an earlier time -> Next
Bạn sẽ nhìn thấy thời điểm phục hồi mà bạn đã tạo phía trên có ghi rõ ngày giờ của thời điểm đó. Click Next để bắt đầu công việc phục hồi hệ thống. Khi phục hồi bạn đừng tranh thủ làm việc gì với Computer, đóng hết các chương trình đang họat động để Restart máy
Tiện ích cuối cùng mà tôi muốn nói đến đó là RECOVERY CONSOLE
4. RECOVERY CONSOLE:
Với tiện ích này bạn có thể sửa chữa cho hệ thống, định dạng đĩa, sử dụng hay không sử dụng các dịch vụ. Có thể bạn rất lạ mắt với RECOVERY CONSOLE bởi 1 điều dễ hiểu nó không được cài đặt khi bạn chạy SETUP của WINDOWS XP PROFESSIONAL.
Để có thể sử dụng RECOVERY CONSOLE bạn phải dăng nhập với quyền Administrator và phải là người dùng hiểu biết nhiều (power user). RECOVERY CONSOLE cho phép sao file từ phương tiện lưu trữ vào phân vùng hệ thống(System Partition) nhưng làm ngược lại thì hoàn toàn không được
Còn nữa, mặc dù bạn có thể di chuyển đến các ổ đĩa LOGIC nhưng bạn không thể đọc được file trên phân vùng bất cứ phân vùng nào ngoại trừ phân vùng hệ thống. RECOVERY CONSOLE rất nguy hiểm “1 bước đi cấm kì quay lại” bởi vậy bạn phải rành rọt nó thì hãy thực hiện. Nếu sai lầm thì, chỉ có cách cài đặt lại mà thôi
Như đã nói phía trên với RECOVERY CONSOLE giúp bạn sửa chữa, định dạng lại ổ đĩa 1 cách nhanh chóng. Vì không gian bài viết có hạn nên tôi chỉ xin đưa những ý chính về RECOVERY CONSOLE. Bạn nào thích tìm hiểu thì thực hiện theo những bước căn bản sau, tất nhiên các bạn tự nghiền ngẫm nó là nhiều
Cách thực hiện
Bạn khởi động(Boot) bằng đĩa CD cài đặt WINDOWS XP PROFESSIONAL. Khi thấy nhắc: Press any *** to boot from CD. Bạn bấm 1 phím bất kì trên bàn phím, hãy thực hiện đúng như thế
Bạn nhìn thấy thông báo “WELCOME TO SETUP” bạn nhấn phím “R” để chạy RECOVERY CONSOLE. Chú ý, nếu máy bạn có cài đặt nhiều hệ điều hành hoặc nhiều bản cài đặt XP(DUAL BOOT hoặc là MULTIPLE-BOOT) bạn phải chọn bản nào bạn ph?i dùng t? RECOVERY CONSOLE
Khi RECOVERY CONSOLE nhắc bạn gõ password của ADMINISTRATOR vào. Sau dĩ <Enter>
Tại dấu nhắc lệnh của RECOVERY CONSOLE bạn gõ:
<Listsvc> Sau đó <Enter>
1 danh sách hiển thị tất cả dịch vụ và driver đã được cài đặt cho bản WINDOWS XP trước đó.
<help> sau đó <Enter>
1 danh sách hiển thị các các lệnh của RECOVERY CONSOLE
Đây là diễn tiến cụ thể của việc khai báo để đăng nhập vào RECOVERY CONSOLE:
Sau khi ấn phím R để vào RECOVERY CONSOLE như đã nói trên. Bạn thấy:
a. 1: C:\Windows
Which windows installation would you like to log onto
(To cancel, press Enter)?
Bạn gõ <1>
Enter
b. Type the Administrator password: xxxxxxxx.
<Enter>
Với xxxxxxxx là password của người quản trị(Administrator)
c. C:\windows>
Bạn gõ help để thực hiện hay listsvc để xem danh sách Driver và các dịch vụ như đã nêu
Kường™
12-07-2008, 12:01 PM
Qua thời gian thực tế một vấn đề phức tạp mà rất nhiều bạn đọc đã gặp phải đó là khi hệ thống mạng LAN của bạn sử dụng nhiều hệ điều hành như Windows 98, Me, Windows 2000, XP, Windows 2000 Server, Windows 2003 Server đó là việc nhiều máy không thể "nhìn thấy nhau" hoặc có "nhìn thấy nhau" thì cũng khó mà truy cập được đặc biệt nếu là Windows 98 mở các máy Windows 2000, XP,2003 thường hay bị hỏi mật khẩu mặc dù bạn đã nhập các loại mật khẩu khác nhau thậm chí có bạn còn nhập cả mật khẩu Administrator nhưng đều không thành công.
Không phải ai cũng có thể giúp bạn nhất là các bạn ở những nơi mà thiếu các chuyên gia hoặc các nhà cài đặt mạng chuyên nghiệp để bạn hỏi, trợ giúp bạn. Lúc đó bạn chỉ có thể nói "Hệ điều hành không tương thích!" hoặc có bạn đưa ra giải pháp là cài lại tất cả hệ thống cùng một loại hệ điều hành. Cài cùng một hệ điều hành cũng làm một giải pháp không tồi. Tuy nhiên không phải lúc nào bạn cũng có thể áp dụng cách này vì trong mạng của bạn tất yếu sẽ có vài máy tính không đủ cấu hình để cài các hệ điều hành như Windows 2000 hoặc XP. Còn nếu cài một loại Windows 98 thì bạn sẽ khó mà đáp ứng đủ các nhu cầu nghiên cứu, làm việc, giải trí do Windows 98 bị hạn chế hoặc kém bảo mật hơn.
Một trong những nguyên nhân làm cho Windows 98 không thể truy cập được máy tính cài Windows 2000 hoặc XP đó là do tài khoản mặc định là Guest trong hệ thống bị khoá (Disible). Nếu bạn biết được chìa khoá là đây thì vấn đề trở lên quá đơn giản phải không? Bạn chỉ việc Enable (mở) tài khoản Guest thế là xong, quá dễ!. Vậy nhưng không phải ai cũng biết, nếu không biết thì làm thế nào?
Mở tài khoản khách - Guest:
Theo mặc định tài khoản Guest sẽ bị đóng có dấu gạch đỏ như hình sau:
Từ Start --> Control Panel --> Administrative Tools --> Computer Management --> Local Users and Groups --> Chọn Users --> Chọn Guest Account --> Kích chuột phải chọn Properties. Xem hình dưới
Bạn hãy bỏ đánh dấu mục Account is Disibled
Sau đó Apply -->OK.
Đến đây công việc có vẻ sắp hoàn tất. Tuy nhiên bạn nên làm thêm một bước nhỏ nữa đó là reset lại mật khẩu cho tài khoản Guest này để chắc chắn mọi việc sẽ diễn ra theo ý muốn. Cũng từ mục Guest Account bạn hãy kích phải chuột chọn "Set Password" sau đó hãy nhập mật khẩu mà bạn muốn dùng (Bạn hãy ghi nhớ mật khẩu này nhé). Còn nếu đây là lần thử nghiệm đầu tiên bạn hãy không nhập gì cả mà nhấn OK luôn.
Bây giờ mọi việc đã hoàn thành bạn hãy mở mạng từ hệ điều hành Windows 98 truy cập vào các máy này. Tất nhiên là truy cập được rồi phải không bạn? Hệ điều hành sẽ không hỏi mật khẩu như trước nữa trừ khi bạn đặt mật khẩu cho tài khoản Guest. Nếu bạn đã lỡ đặt mật khẩu cho tài khoản Guest thì không sao khi hệ thống hỏi bạn nhập mật khẩu dạng $IPC bạn hãy nhập mật khẩu của tài khoản Guest mà bạn đặt
Nếu máy truy cập là Windows 2000, XP thì hệ thống sẽ hỏi bạn User và Password --> Bạn chỉ việc nhập User là Guest, Password là trống hoặc password do bạn đặt lúc trước
Đến đây việc giải quyết sự truy cập giữa các máy đã tạm ổn. Tuy nhiên còn một vấn đề khác đó là những máy sử dụng Windows 2000 hoặc Windows XP sẽ không nhìn thấy hết các máy trên mạng LAN. Tôi sẽ đưa cho bạn 02 cách sau:
Cách 01 cài đặt đầy đủ các giao thức mạng LAN ngang hàng:
Thông thường Windows 98, Me sử dụng các giao thức mạng Netware hoặc Novell dựa trên các giao thức chuẩn là NetBEUI và IPX/SPX. Netware là giao thức mạng đơn giản và hiệu quả đối với mạng ngang hàng trong việc chia sẻ dữ liệu, máy in
Windows 98, Me: Từ Network Neighbourhood --> Kích chuột phải chọn Properties --> General chọn Add hoặc Install --> Tìm 02 giao thức là NetBEUI và IPX/SPX để cài đặt
Đối với hệ điều hành Windows 2000,XP,2003: Từ My Network Place --> Kích chuột phải --> Local Area Network --> Kích chuột phải chọn Properties --> General chọn Install --> Tìm 02 giao thức là NetBEUI và IPX/SPX để cài đặt
Sua đó khởi động lại máy. Bạn chú ý sau khi khởi động máy mà bạn đã truy cập mạng ngay thì chắc chắn sẽ không được. Tốt nhất bạn hãy đợi khoảng 10 - 30 phút cho toàn bộ hệ thống khởi động và làm việc ổn định thì mới truy cập.
Cách 02 truy cập các máy trong mạng LAN sử dụng IP hoặc tên máy
Từ Start --> Run --> Gõ IP máy ví dụ máy truy cập có IP là 10.120.110.24 bạn hãy gõ như sau: file://10.120.110.24/ (file://10.120.110.24/) sau đó OK. Xem hình dưới
Nếu bạn muốn truy cập bằng tên máy hãy gõ file://ten_may/ (file://ten_may/)
Kường™
12-07-2008, 12:03 PM
Giới thiệu SQL Server 2000
SQL Server 2000 là một hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu (Relational Database Management System (RDBMS) ) sử dụng Transact-SQL để trao đổi dữ liệu giữa Client computer và SQL Server computer. Một RDBMS bao gồm databases, database engine và các ứng dụng dùng để quản lý dữ liệu và các bộ phận khác nhau trong RDBMS.
SQL Server 2000 được tối ưu để có thể chạy trên môi trường cơ sở dữ liệu rất lớn (Very Large Database Environment) lên đến Tera-Byte và có thể phục vụ cùng lúc cho hàng ngàn user. SQL Server 2000 có thể kết hợp "ăn ý" với các server khác như Microsoft Internet Information Server (IIS), E-Commerce Server, Proxy Server....
SQL Server có 7 editions:
• Enterprise: Chứa đầy đủ các đặc trưng của SQL Server và có thể chạy tốt trên hệ thống lên đến 32 PUs và 64 GB RAM. Thêm vào đó nó có các dịch vụ giúp cho việc phân tích dữ liệu rất hiệu quả (Analysis Services)
• Standard : Rất thích hợp cho các công ty vừa và nhỏ vì giá thành rẻ hơn nhiều so với Enterprise Edition, nhưng lại bị giới hạn một số chức năng cao cấp (advanced features) khác, edition này có thể chạy tốt trên hệ thống lên đến 4 CPU và 2 GB RAM.
• Personal: được tối ưu hóa để chạy trên PC nên có thể cài đặt trên hầu hết các phiên bản windows kể cả Windows 98. Chúng tôi đề nghị bạn sử dụng bản SQL Server này .
• Developer : Có đầy đủ các tính năng của Enterprise Edition nhưng được chế; tạo đặc biệt như giới hạn số lượng người kết nối vào Server cùng một lúc....
• Desktop Engine (MSDE): Ðây chỉ là một engine chạy trên desktop và không có user interface (giao diện). Thích hợp cho việc triển khai ứng dụng ở máy client. Kích thước database bị giới hạn khoảng 2 GB.
• Win CE : Dùng cho các ứng dụng chạy trên Windows CE
• Trial: Có các tính năng của Enterprise Edition, download free, nhưng giới
hạn thời gian sử dụng.
- 2 -
Cài đặt SQL Server 2000
Vì một trong những đặc điểm của các sản phẩm Microsoft là dễ install nên chúng tôi
không trình bày chi tiết về cách install hay các bước install mà chỉ trình bày các điểm
cần lưu ý khi install mà thôi.
Ở màn hình thứ nhất sau khi chạy install, bạn chọn SQL Server 2000 Components để
cài đặt.
Ở màn hình thứ hai Install Components, bạn chọn Install Database Server.
Ở màn hình Computer Name, chọn Local Computer
Ở màn hình Installation Selection, chọn Create a new instance of SQL Server, or install Client Tools.
Ở màn hình User Information, nhập tên và công ty của bạn.
Ở màn hình Software License Agreement, chọn Yes.
Kường™
12-07-2008, 12:03 PM
Ở màn hình Install Definition, bạn chọn Client and Server Tolls.
Ở màn hình Setup Type, chọn Typical.
Ở màn hình Service Accounts, chọn Use the Local System account.
Ở màn hình Authentication Mode nhớ chọn Mixed Mode.
Các bước sau các bạn cứ chọn Next để cài đặt.
Sau khi install bạn sẽ thấy một icon nằm ở góc phải bên dưới màn hình, đây chính là Service Manager. Bạn có thể Start, Stop các SQL Server services dễ dàng bằng cách double-click vào icon này. Chú ý là Service Manager phải được Start khi thực hiện các chương trình liên quan đến SQL Server. Nếu icon Service Manager không thấy xuất hiện ở góc phải màn hình thì chúng ta chọn Start – Programs – Microsoft SQL Server – Service Manager và bạn có thể Start, Stop các SQL Server Service.
Kường™
12-07-2008, 03:33 PM
Trong các doanh nghiệp có ứng dụng CNTT thì các nhân viên văn phòng thường được trang bị riêng máy tính, máy in và thậm chí cả máy scan. Chuyên đề này sẽ hướng dẫn các bạn kết hợp những thiết bị mà mình đang có trở thành một máy photocopy cho riêng mình.
THÀNH PHẦN CẤU TẠO
Công thức “chế tạo” máy photocopy trong trường hợp này là:
Máy photocopy = Phần mềm Photocopier + Máy tính + Máy scan + Máy in
Bạn đặt tài liệu muốn phôtô vào máy scan và nhấn nút Copy trên bảng điều khiển của phần mềm Photocopier, những bản sao chụp sẽ đi ra đường máy in.
KẾT NỐI THIẾT BỊ VÀ CÀI ĐẶT PHẦN MỀM PHOTOCOPIER PRO
Để chiếc máy photocopy 3 thành phần của các bạn có thể họat động nhịp nhàng, các bạn cần tải phần mềm Photocopier về và cài đặt vào máy tính của mình.
Tải phần mềm:
Các bạn truy cập vào website: www.nicocuppen.com (http://www.nicocuppen.com/).
http://www.trithuc.com/tapchibit/thtgvt/104-tgvt-01.jpg
Nhấp chọn Download à Trong bảng lựa chọn các phần mềm download, các bạn có thể chọn phần mềm Photocopier 3.02 - phiên bản miễn phí, hoặc Photocopier Pro 3.04 phiên bản dùng thử 30 ngày. Chọn Photocopier Pro 3.04 để minh họa trong chuyên đề này.
Để bắt đầu tải về, các bạn nhấn vào liên kết Download now bên cạnh phần mềm mình chọn. Các bạn chọn thư mục lưu chứa tập tin tải về.
Kết nối máy scan, máy in với máy tính:
Trong văn phòng, các bạn đã có sẵn máy scan và máy in đang sử dụng nên tôi sẽ không hướng dẫn cách cài đặt các thiết bị này. Lưu ý là khi phối hợp với phần mềm Photocopier để biến chúng thành máy photocopy, các bạn có thể sử dụng máy in nối trực tiếp với máy tính hoặc máy in dùng chung qua mạng.Chúng ta sẽ bắt đầu cài chương trình Photocopier Pro vào máy tính đang kết nối với máy scan.
Cài đặt chương trình Photocopier Pro:
Các bạn mở thư mục chứa tập tin cài đặt đã tải về trước đây và nhấp đúp vào tên tập tin CCPRO.EXE để mở chương trình cài đặt.
Nhấp nút Run để cài chương trình. Chương trình cài đặt diễn ra đơn giản và ngắn gọn. Các bạn chấp nhận điều kiện sử dụng chương trình, chọn đường dẫn cài đặt và cuối cùng nhấn nút Finish để hoàn tất quá trình cài đặt.
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG PHOTOCOPIER
Các công việc chuẩn bị ban đầu để phối hợp máy scan, máy in và chương trình điều khiển photocopy đã hoàn thành. Bây giờ chúng ta sẽ làm quen với giao diện của chương trình Photocopier Pro và sử dụng chương trình này để sao chụp tài liệu, tương tự như khi bạn sử dụng một máy photocopy thực sự.
Giao diện của chương trình:
Bạn có thể mở chương trình Photocopier Pro từ Start/All Programs/Photocopier Pro/Photocopier Pro; hoặc đơn giản nhấp đúp vào biểu tượng Photocopier Pro trên màn hình Desktop. Vì ở đây đang sử dụng phiên bản dùng thử nên chương trình sẽ xuất hiện cửa sổ đăng ký. Nhấn chọn No để xác nhận chưa đăng ký và dùng thử chương trình trong 30 ngày.
Dưới đây là giao diện chính của chương trình Photocopier Pro. Chúng ta sẽ làm quen với từng thành phần chức năng trên giao diện này:
http://www.trithuc.com/tapchibit/thtgvt/104-tgvt-02.jpg
Như các cửa sổ giao diện thông thường, các bạn thấy các nút Minimize để thu nhỏ màn hình xuống và nút Exit để đóng và thoát khỏi chương trình. Nút Help để mở của sổ hướng dẫn. Nút Setup để mở cửa sổ thiết lập các thông số và để chọn máy in và máy scan.
Phía trên bên trái là khu vực "Tùy biến", gồm nhiều nút lựa chọn cho phép kích hoạt hay không kích hoạt một họat động nào đó. Ví dụ một số hoạt động thường dùng như:
Enable Preview: khi được chọn sẽ làm xuất hiện cửa sổ hiển thị hình ảnh vừa scan.
Printer Dialog: chọn khi muốn xuất hiện hộp thoại thiết lập máy in trước khi in ra máy in.
Force Original Size: khi chọn sẽ cho bản sao có cùng kích thước với bản gốc.
Các phần còn lại được mô phỏng tương tự bàn điều khiển trên một máy photocopy thực sự, bao gồm các nút điều chỉnh có tác động đến bản photocopy:
Các nút chọn chế độ màu: B/W, GrayScale, Color.
Các nút tăng giảm độ sáng tối: Brightness.
Các nút tăng giảm tỷ lệ phóng to/thu nhỏ: Scaling.
Các nút +/- để chọn số bản photocopy cho một ảnh scan.
Màn hình hiển thị các thông số vừa chọn.
Nút Copy để thực hiện việc sao chụp.
Khai báo thiết bị máy scan và máy in trong chương trình:
Trước khi sử dụng chương trình nà để photocopy tài liệu, chúng ta sẽ tìm hiểu việc nhận dạng thiết bị máy scan và máy in của chương trình Photocopier Pro.
Tại giao diện chính của Photocopier Pro, các bạn nhấp chọn Setup để mở cửa sổ khai báo thiết bị và thông số họat động cho chương trình.
Các bạn nhận thấy Photocopier Pro đã tự động dò thấy các thiết bị máy scan và máy in đang cài trên máy:
http://www.trithuc.com/tapchibit/thtgvt/104-tgvt-03.jpg
Máy scan ở mục Current TWAIN device: Scan 1200c. Nếu bạn có nhiều hơn một máy scan bạn có thể nhấn nút Select TWAIN device để khai báo.
Máy in ở các mục Printer: Samsung ML-1710. Nếu bạn sử dụng cả máy in đen trắng và máy in màu thì bạn sẽ khai báo trong các mục chọn máy in đen trắng và máy in màu tương ứng.
Ngoài việc khai báo thiết bị, tại cửa sổ này các bạn cũng có thể đánh dấu chọn một số thông số cấu hình khác cho chương trình. Hầu hết các thông số này cũng có thể thiết lập tại giao diện chính. Sử dụng:
Đến đây tất cả các thiết bị và phần mềm photocopy đã sẵn sàng. Chúng ta sẽ sử dụng chiếc máy photocopy mà chúng ta vừa tạo ra để sao chụp các tài liệu của mình. Đầu tiên các bạn đưa tài liệu gốc cần phôtô vào máy scan. Trên bàn điều khiển chính của Photocopier Pro các bạn có thể điều chỉnh tỷ lệ phóng (mặc định là 100%, tức là như bản gốc) hoặc độ đậm nhạt của bản phôtô – gồm 7 mức.Nhấn vào dấu + để tăng số bản cần phôtô lên 2 bản.
Trong phần Option, chọn Enable Preview để làm xuất hiện cửa sổ hiển thị hình ảnh vừa scan, và chọn Printer Dialog để xuất hiện hộp thoại về máy in để kiểm tra trước khi in ra máy in. Sau đó, nhấn nút Copy để ra lệnh cho máy photocopy làm việc.
Các bạn nhận thấy máy scan bắt đầu quét tài liệu mà bạn cần photo. Sau khi quét xong, do bạn đã chọn Enable Preview nên Photocopier Pro sẽ mở ra cửa sổ xem trước hình trước khi in. Tại đây bạn có thể điều chỉnh bằng cách lật hình, đảo hình âm bản… Bạn nhấn nút Print để in ảnh này ra.
Nếu các bạn không muốn xuất hiện các cửa sổ hay hộp thọai như vừa rồi, làm gián đọan công việc photo, thì tại bàn điều khiển của Photocopier Pro các bạn không đánh dấu chọn các mục Enable Preview và Printer Dialog. Khi đó sau khi các bạn nhấn Copy, quá trình sẽ âm thầm diễn ra cho đến khi bạn nhận được bản photo từ máy in.
KẾT LUẬN
Việc tận dụng các thiết bị có sẵn để tạo riêng cho mình một máy photocopy màu cũng thú vị lắm phải không các bạn. Tuy nhiên hệ thống này sẽ họat động không nhanh như là một máy photocopy thực sự và bạn cần lưu ý là phần mềm Photocopier Pro nếu chưa mua và đăng ký chỉ cho phép bạn sử dụng trong 30 ngày.
Kường™
13-07-2008, 09:46 AM
Khi hệ thống gặp bất ổn, hệ điều hành (HĐH) sẽ cố gắng đưa ra các thông báo lỗi cho người sử dụng nhận biết để xử lý. Trong một số trường hợp, thông báo lỗi rất rõ ràng và dễ hiểu. Nhưng trong phần lớn các trường hợp, HĐH đưa ra những thông báo chung chung, hoặc khó hiểu, và nhiều khi làm người sử dụng cảm thấy bối rối. Điều này đặc biệt đúng đối với các HĐH Windows của Microsoft. Bài viết cố gắng mô tả và tìm hiểu nguyên nhân một số lỗi thường gặp nhất khi sử dụng Windows.
1. Fatal Exception Error OE/OD Error
Lỗi Fatal Exception Error (tạm dịch là Lỗi ngoại lệ chết người) có 2 loại OE và OD.
Lỗi Fatal Exception OE xảy ra bất cứ khi nào bộ vi xử lý gặp lỗi dữ liệu hoặc lỗi của chương trình thực thi. Lỗi này có thể xảy ra trong các trường hợp sau:
a.. Chương trình đang chạy bị lỗi.
b.. Dữ liệu hoặc mã máy không hợp lệ được gửi tới HĐH và Bộ vi xử lý.
c.. Cấp độ ưu tiên thực thi của một chương trình bị vi phạm.
Khi một trong 3 trường hợp nêu trên xảy ra, bộ vi xử lý sẽ gửi thông báo ngoại lệ (exception) tới HĐH, và nếu HĐH không sửa được lỗi, nó sẽ gửi thông báo lỗi Fatal Exception tới màn hình cho người dùng biết. Trong nhiều trường hợp, lỗi Fatal Exception là không thể cứu vãn được, và bạn chỉ còn một cách duy nhất là nhấn nút Power hoặc Restart của PC tuỳ theo mức độ nghiêm trọng của lỗi.
Lỗi Fatal Exception OD cũng xảy ra khá thường xuyên đối với người dùng Windows. Lỗi này có thể đến từ các nguyên nhân như trình điều khiển card màn hình bị hỏng hoặc quá cũ với HĐH, hoặc một phần mềm đa phương tiện nào đó yêu cầu nâng cấp cho phù hợp với HĐH. Đôi khi lỗi OD là do file Hsflop.pdr bị mất hoặc bị hỏng.
2. Invalid Page Fault Error
Lỗi Invalid Page Fault Error (tạm dịch là Lỗi bộ nhớ ảo không hợp lệ) xảy ra khi các tham số trao đổi giữa 1 chương trình và HĐH bị sai lệch bất thường.
Tham số không hợp lệ sẽ khiến cho chương trình chạy sai và do vậy, HĐH sẽ đưa ra thông báo lỗi Invalid Page Fault. Lỗi này thường xảy ra ở những trường hợp sau:
a.. Bộ nhớ ảo (VM) bị mất ổn định vì thiếu bộ nhớ vật lý (RAM).
b.. VM bị mất ổn định vì thiếu không gian đĩa cứng.
c.. Khu vực VM trên đĩa cứng bị một chương trình nào đó làm hỏng.
d.. Một chương trình nào đó truy cập vào vùng dữ liệu đang được một chương trình khác cập nhật hoặc bổ xung.
3. General Protection Fault Error
Lỗi General Protection Fault Error (tạm dịch là Lỗi bảo vệ chung) thường xảy ra khi có bất ổn với phầm mềm, hoặc báo hiệu rằng một trình điều khiển thiết bị nào đó đã lỗi thời và cần được nâng cấp.
Nếu không thể tự mình xác định được nguyên nhân gây lỗi, bạn có thể nhờ tới Dr. Watson. Chương trình này là một công cụ hữu hiệu để chuẩn đoán tình trạng hoạt động của Windows khi có trục trặc xảy ra. Nó không chỉ tìm ra thủ phạm gây lỗi mà còn gợi ý cho bạn những hướng giải quyết tương đối hiệu quả.
Để Dr. Watson “bắt được thủ phạm”, ngay sau khi gặp lỗi General Protection Fault, bạn nên chạy công cụ này. Bạn chọn Start – Run – Gõ “drwatson”.
4. Windows Protection Error
Lỗi Windows Protection Error (tạm dịch là Lỗi bảo vệ Windows) xảy ra khi HĐH cố gắng nạp hoặc loại bỏ hoạt động của một trình điều khiển thiết bị ảo (*.vxd)
Mỗi khi HĐH thông báo về lỗi Windows Protection , bạn có thể chắc chắn rằng một trình điều khiển thiết bị nào đó đã gặp trục trặc. Trong phần lớn cách trường hợp, file *.vxd bị lỗi sẽ được nêu tên trong thông báo của HĐH. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, bạn không thể xác định được file *.vxd nào có vấn đề qua thông báo của Windows. Để xác đinh lỗi file *.vxd trong những trường hợp này, bạn nên chọn chế độ khởi động Step-by-Step Confirmation (hoặc Debugging Mode) để xác định trình điều khiển thiết bị nào cần được sửa chữa. Để chọn chế độ nêu trên, nhấn phím Ctrl (Win9x) hoặc F8 (Win2K, XP) cùng lúc khi HĐH bắt đầu khới động, rồi chọn Step-by-Step Confirmation (hoặc Debugging Mode) từ danh sách.
Lỗi Windows Protection có thể đến từ các nguyên nhân sau:
a.. Có xung đột giữa một trình điều khiển chế độ thực (real-mode) với một trình điều khiển chế độ bảo vệ (protected-mode).
b.. Registry của Windows bị hỏng.
c.. File Win.com hoặc file Command.com bị nhiễm virus hoặc bị hỏng.
d.. Một trình điều khiển thiết bị chế độ bảo vệ được nạp lên từ file Systen.ini trong khi trình điều khiển này đã được tải lên rồi.
e.. Có xung đột giữa các địa chỉ vào-ra vật lý (I/O address ) hoặc địa chỉ bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên (RAM address).
f.. Các thiết đặt cho thiết bị ngoại vi trong CMOS không phù hợp.
g.. Tính năng “Cắm – Xài” (Plug & Play) của BIOS làm việc không ổn định.
h.. Bộ nhớ (hoặc bộ nhớ đệm cache của PC có trục trặc.
i.. Bo mạch chủ của PC hoạt động không ổn định.
j.. PC của bạn có cài cả Microsoft Office 97 và phần mềm Novell Client32
Kường™
13-07-2008, 09:47 AM
5. Kernel32.dll
Lỗi Kernel32.dll (tạm dịch là Lỗi file Kernel32.dll). File Kernel32.dll là một file thư viện động 32 bit có trong Win9x và ME. File này chịu trách nhiệm quản lý bộ nhớ, các hoạt động vào-ra cũng như các ngắt. Khi Windows bắt đầu khởi động, file Kernel32.dll được tải lên một khu vực đặt biệt trong bộ nhớ. Khu vực này được bảo vệ đặc biệt khiến cho các chương trình khác không thể tiếp cận được một khi Kernel32.dll đã chiếm chỗ.
Lỗi Invalid Page Fault xảy ra khi một chương trình cố gắng thâm nhập vào khu vực bộ nhớ được bảo vệ của file Kernel32.dll. Đôi khi lỗi này có thể xảy ra khi chạy một chương trình cụ thể, nhưng cũng có khi nó xảy ra với nhiều chương trình khách nhau. Nếu lỗi là do một chương trình gây ra thì chương trình đó cần được thay thế. Nhưng nếu lỗi xảy ra với nhiều chương trình khác nhau thì bạn nên nghĩ tới khả năng phần cứng có vấn đề.
Bạn nên chọn chế độ khởi động Step-by-Step Confirmation (hoặc Debugging Mode) để kiểm tra xem các chương trình thường trú có phải là nguyên nhân gây lỗi không. (Nói vậy không có nghĩa là loại bỏ khả năng các chương trình khác cũng có thể gây lỗi).
Lỗi Kernel32.dll có thể đến từ các nguyên nhân sau:
a.. File tráo đổi (swap/paging) bị hỏng.
b.. Phân vùng file không hợp lệ.
c.. Danh sách mật khẩu bị mất.
d.. File Kernel32.dll bị hỏng hoặc sai phiên bản.
e.. Registry của Windows bị hỏng.
f.. Lỗi phần cứng (CPU quá nóng, tình trạng overclocking, bộ nguồn không ổn định, lỗi đĩa cứng...).
g.. Các thiết đặt (cho RAM, Cache...) trong BIOS không chính xác.
h.. Lỗi phần mềm.
i.. File *.dll bị lưu trên Desktop.
j.. Thư mục Temp bị mất hoặc hỏng.
k.. File *.cpl (control panel) bị hỏng.
l.. Trình điều khiển phần cứng bị lỗi hoặc bị hỏng.
m.. Cài đặt sai trình điều khiển máy in.
n.. Máy ảo Java bị hỏng.
o.. File *.log bị hỏng.
p.. Lỗi trong thư mục History.
q.. Các file thư viện liên kết động (*.dll) bị hỏng hoặc không đúng phiên bản.
r.. Thiếu chỗ trên đĩa cứng
s.. Cùng một số các trục trặc khác liên quan tới file Kernel32.dll.
6. Stack Fault
Stack (tạm dịch là Ngăn xếp) là một vùng bộ nhớ dùng cho các file thực thi hoặc cho các quá trình xử lý. Lỗi Stack xảy ra khi một ứng dụng hoặc một quá trình sử lý cố truy cập vào vùng bộ nhớ bên ngoài khu vực Stack. Lỗi này thường dẫn đến treo máy.
7. Missing or Damaged Files
Missing or Damaged Files (tạm dịch là Lỗi file bị mất hoặc hỏng). Đây là một lỗi rất thường gặp ở Windows. Nguyên nhân của lỗi này có rất nhiều, và đôi khi rất khó thể xác định được nguyên nhân.
Để khắc phục tình trạng này thì cách tốt nhất là tìm file bị mất trong bộ cài đặt và chép đè lên file bị hỏng, hoặc chép tới vị trí của file bị mất. Trong trường hợp không được thì bạn cần phải cài đặt lại chương trình.
Cho dù trong bất cứ hoàn cảnh nào thì bạn cũng nên xác định xem file lỗi bị mất hay bị hỏng. Dựa trên thông báo lỗi, bạn nên dùng lệnh Find hoặc Search của Windows để tìm file. Nếu tìm thấy (tức là file bị hỏng), bạn nên tìm xem file này của HĐH, của các chương trình Microsoft, hay của một hãng khác. Để làm vậy, bạn nhấn chuột phải vào file, chọn Properties, nhấn lên nhãn Version (nếu có). Thông tin về file nàm ở đây, và dựa vào đó bạn có thể xác định được file bị mất thuộc chương trình nào, và tìm file thay thế ở đâu. Nếu không tìm thấy file, hoặc không biết file do ai phát triển, bạn nên thử một vài cách sau để tìm thông tin:
a.. Kiểm tra xem có chương trình nào không chạy khi bạn có gắng cho nó làm việc.
b.. Xác định xem thông báo lỗi có xuất hiện khi bạn chạy một chương trình cụ thể nào đó không.
c.. Kiểm tra những chương trình được cài đặt (hoặc gỡ cài đặt) gần nhất.
8. Blue screen of death
Blue screen of death (tạm dịch là Màn hình màu xanh chết chóc) không nên coi là lỗi mà nên được coi là hậu quả nghiêm trọng cho hệ thống do lỗi gây ra. Khi bạn nhìn thấy màn hình màu xanh này có nghĩa là Windows đã mất khả năng kiểm soát. Bạn được khuyên là hãy nhấn tổ hợp phím CTRL-ALT-DEL để khởi động lại PC. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, kiểu khởi động nóng này cũng không có tác dụng, và bạn chỉ còn một cách duy nhất là nhấn nút Restart hoặc Power trên PC mà thôi.
So với những người anh em Win9x của mình thì Win2K và XP tỏ ra có khả năng chịu đựng lỗi cao hơn nhiều, đặc biệt là WinXP. Tuy nhiên không phải là Win2K và XP không có lỗi. Khi quản lý được lỗi, WinXP đề nghị bạn gửi thông tin về lỗi cho Microsoft xử lý. Khi không sửa chữa được trục trặc (mặc dù tình trạng này không nhiều) WinXP hoặc: bất ngờ khởi động lại PC mà không đưa ra một thông báo nào, hoặc: xuất hiện màn hình màu xanh kiểu mới với những thông báo rất khó hiểu với người dùng thông thường. Trong trường hợp này, bạn cũng chỉ có thể nhấn nút Restart hoạc Power trên PC mà thôi.
Kường™
13-07-2008, 09:49 AM
Bạn muốn gửi cho người thân hay bạn bè một e-mail có nội dung hết sức riêng tư và không muốn ai đọc được nội dung. Với chương trình Secure Message, các bạn có thể mã hóa nội dung e-mail của mình rồi mới gửi đi.
Với phương pháp này, chỉ có người nhận với mật khẩu do bạn cung cấp mới có thể dùng chương trình Secure Message để giải mã e-mail đã mã hóa thành e-mail ban đầu được thôi. Còn người khác nhìn vào chỉ thêm hoa mắt bởi trong e-mail là một “rừng” các chữ cái xếp lộn xộn nhau.
Chương trình tương thích với Windows, được cung cấp miễn phí tại địa chỉ:
http://www.blaizgraphics.net/SMESSAGE.ZIP
Chương trình Secure Message không cần cài đặt, các bạn chỉ việc giải nén file SMESSAGE.zip ra rồi nhấn đúp vào file SMESSAGE.exe để sử dụng ngay. Chương trình có giao diện rất đơn giản. Các bạn hãy nhập đoạn văn bản mà mình muốn mã hóa vào cửa sổ soạn thảo của chương trình. Đặc biệt, các bạn có thể dùng bảng mã Unicode để gõ văn bản của mình bằng tiếng Việt có dấu.
Để làm được điều này, các bạn hãy vào menu Settings -> Font, sau đó chọn một loại font Unicode rồi gõ tiếng Việt như bình thường. Các bạn cũng có thể copy văn bản từ một nơi nào đó rồi “dán” qua cửa sổ của chương trình cũng được. Và để thể hiện được tiếng Việt có dấu thì máy vi tính của người nhận cũng phải sử dụng bảng mã Unicode.
Sau khi đã xong việc nhập văn bản, các bạn hãy khai báo mật khẩu vào khung Password 0000, chiều dài của mật khẩu tối thiểu là 3 ký tự. Cuối cùng, các bạn nhấn vào nút dấu cộng màu đỏ trên thanh công cụ hay nhấn phím F3, tức thì đoạn văn bản sẽ được mã hóa thành một đoạn rất dài toàn là những chữ cái xếp lộn xộn.
Trong chương trình Secure Message có năm mức độ mã hóa cho người sử dụng lựa chọn, đó là: Nominal, Low, Medium, High và Extreme, được xếp theo thứ tự từ thấp đến cao. Phiên bản miễn phí của chương trình chỉ cho phép bạn mã hóa văn bản ở mức Nominal, dù là mức thấp nhất nhưng cũng đủ để bạn có thể yên tâm về tính bảo mật.
Nếu bạn muốn sử dụng các mức độ mã hóa cao hơn thì phải trả phí cho nhà sản xuất chương trình Secure Message (bạn hãy vào trang chủ của chương trình để biết thêm chi tiết).
Sau khi đã thực hiện việc mã hóa, các bạn hãy vào menu File -> Save As (hay nhấn tổ hợp phím Ctrl+A cho nhanh) để lưu đoạn văn bản đã được mã hóa dưới dạng file .txt, hoặc các bạn có thể nhấn vào nút trên thanh công cụ để copy toàn bộ nội dung văn bản đã mã hóa này rồi “dán” vào khung soạn e-mail và gửi đi.
Khi nhận được e-mail của bạn, để thực hiện việc giải mã, người nhận phải mở chương trình Secure Message lên, sau đó copy đoạn văn bản đã được mã hóa trong e-mail rồi “dán” vào khung soạn thảo của chương trình, hoặc nếu bạn gửi bằng file .txt thì người nhận hãy vào menu File -> Open rồi chọn file .txt đó.
Sau đó người nhận ghi mật khẩu do bạn cung cấp vào khung Password 0000 rồi nhấn nút dấu trừ màu đỏ trên thanh công cụ hay nhấn phím F4, tức thì đoạn văn bản sẽ được giải mã. Và bạn cũng nên dặn người nhận khi nhấn nút dấu trừ màu đỏ mà có xuất hiện hộp thông báo thì cứ việc nhấn OK trong các hộp thông báo này là xong.
Một “mẹo” nhỏ cho các bạn: Khi bạn mã hóa văn bản của mình thì đoạn văn bản sau khi mã hóa luôn bắt đầu bằng dòng ### BEGIN SECURE MESSAGE v1.0 ### và kết thúc bằng dòng ### END SECURE MESSAGE ###. Nếu bạn cứ để nguyên như thế gửi đi cho người nhận thì nếu có người lạ xem được e-mail này, họ cũng có thể “ngờ ngợ” ra rằng bạn đã mã hóa nội dung e-mail rồi.
Các bạn chỉ nên gửi nội dung văn bản đã mã hóa nằm giữa hai dòng ### BEGIN SECURE MESSAGE v1.0 ### và ### END SECURE MESSAGE ### cho người nhận thôi. Rồi hãy thỏa thuận trước với người nhận để người nhận tự thêm hai dòng này vào đầu và cuối đoạn văn bản trước khi giải mã. Như thế, nếu có người lạ mở e-mail do bạn gửi đến thì cũng sẽ tưởng là bạn gửi e-mail đến chọc phá người nhận chứ đâu nghĩ là bạn đã mã hóa nội dung e-mail rồi
Kường™
13-07-2008, 09:50 AM
Nỗi băn khoăn của người sử dụng được giới chuyên môn tư vấn, dựa trên kinh nghiệm thực tiễn. Càng ngày, thị trường càng xuất hiện nhiều những dòng máy ảnh kỹ thuật số cao cấp, có độ phân giải, dung lượng ảnh chụp lớn. Các loại máy từ năm đến bảy chấm đã trở nên phổ biến.
Từ đây, cũng đặt ra câu hỏi cho nhiều người tiêu dùng bình thường, những người có nhu cầu sử dụng máy ảnh trong gia đình, chỉ để chụp những ảnh lưu niệm, ảnh cho mục đích du lịch... là nên mua máy ảnh mấy chấm thì vừa. Những chiếc máy ảnh đã sắm có còn sử dụng tốt hay đã lạc hậu.
Lời khuyên: Nên chọn từ 5 chấm trở xuống
Có vẻ như lời khuyên từ các nhà chuyên môn cũng có khác nhau chút đỉnh. Ông Lê Quang Hải, phụ trách kỹ thuật hãng Panasonic tại Việt Nam cho rằng, với nhu cầu sử dụng cho mục đích gia đình, chỉ thường xuyên chụp và mang đi tráng rọi với khổ ảnh thông thường như trước nay vẫn dùng với máy phim thì chỉ cần chọn các loại máy có độ phân giải dưới 5 chấm là đủ xài. Ông Đoàn Anh Huy, chủ tiệm ảnh Huy Cận đường Trần Hưng Đạo thì khuyên, khoảng 4 chấm là được.
Nhìn chung, lập luận của những người đưa ra lời khuyên trên là dựa vào thực tế của kỹ thuật in, rọi ảnh của các lab kỹ thuật số hiện nay cũng như chất lượng của tấm ảnh sau khi in ra.
Ông Võ Thanh Hải, phụ trách phòng lab của hiệu ảnh kỹ thuật số Kim Long ở 88 đường Hai Bà Trưng, cho biết: Hiện tại các mini lab kỹ thuật số sử dụng máy rọi của nhiều hãng khác nhau như Konica, Fuji, Noritsu... nhưng ở những máy này có một điểm chung là đối với mỗi khổ ảnh, chúng chỉ chấp nhận một độ phân giải nhất định. Do vậy, khi đưa một file ảnh kỹ thuật số vào để in, rọi, bên cạnh việc đôi khi phải chỉnh sửa đôi chút về màu sắc, độ sáng để ảnh in ra được đẹp hơn thì hoặc kỹ thuật viên phải chỉnh lại độ phân giải cho phù hợp với khổ ảnh muốn rọi hoặc một số máy có chế độ tự chỉnh theo khổ ảnh. Theo ông Hải, dù ảnh chụp với độ phân giải bảy đến tám megapixels (chấm) thì khi rửa ảnh với khổ 10x15 cm, máy hoặc kỹ thuật viên cũng hạ độ phân giải của file ảnh xuống còn chừng 2 megapixels là đủ có một bức ảnh đạt về độ mịn.
Cũng có một số lab, theo ông Lê Quang Hải, xử lý rọi ảnh số theo kỹ thuật analog, tương tự như khi rọi ảnh từ phim, thì có thể sẽ không cần chỉnh sửa độ phân giải, dung lượng của file ảnh khi rọi. Với các loại máy này thì ảnh chụp với dung lượng càng lớn, nghĩa là càng nhiều chấm thì khi rọi ra càng mịn.
Một số lab nhỏ còn sử dụng máy in ảnh để in ra ảnh số, với các máy in này thì việc chỉnh lại độ phân giải là bắt buộc, bởi vì như vậy mới có thể in nhanh, không hao nhiều mực... nhưng chất lượng ảnh in từ máy in không bằng máy rửa ảnh kỹ thuật số chuyên nghiệp.
Nhiều chấm thì sao?
Dĩ nhiên, không ai khuyên người tiêu dùng không nên chọn các loại máy nhiều chấm. Bởi vì theo ông Võ Thanh Hải, ở các máy này, tuỳ trường hợp, khi sử dụng người ta có thể để ở chế độ ít chấm hơn. Và như vậy, người sử dụng sẽ chủ động hơn.
Khi sử dụng máy ảnh có độ phân giải cao, lời khuyên của những người có kinh nghiệm là cần quan tâm đến những thiết bị liên quan để chọn chế độ chụp cho phù hợp. Với chế độ chụp thường xuyên là 5 megapixels, trung bình một tấm ảnh sẽ có dung lượng vào khoảng trên dưới 2 MB. Và như vậy, người sử dụng cần chú ý đến khả năng sắm các loại thẻ nhớ có dung lượng lớn. Chú ý đến dung lượng của máy tính mình đang có để lưu trữ ảnh hoặc phải có ổ ghi để chép ảnh ra đĩa CD.
Nếu mua máy ảnh kỹ thuật số cho mục đích chụp xong mang đến lab để rọi ra những tấm ảnh khổ bình thường thì v
Kường™
13-07-2008, 09:54 AM
FAT16: Với HĐH MS-DOS, hệ thống tập tin FAT (FAT16 – để phân biệt với FAT32) được công bố vào năm 1981 đưa ra một cách thức mới về việc tổ chức và quản lý tập tin trên đĩa cứng, đĩa mềm. Tuy nhiên, khi dung lượng đĩa cứng ngày càng tăng nhanh, FAT16 đã bộc lộ nhiều hạn chế. Với không gian địa chỉ 16 bit, FAT16 chỉ hỗ trợ đến 65.536 liên cung (clusters) trên một partition, gây ra sự lãng phí dung lượng đáng kể (đến 50% dung lượng đối với những ổ đĩa cứng trên 2 GB).
FAT32: được giới thiệu trong phiên bản Windows 95 Service Pack 2 (OSR 2), được xem là phiên bản mở rộng của FAT16. Do sử dụng không gian địa chỉ 32 bit nên FAT32 hỗ trợ nhiều cluster trên một partition hơn, do vậy không gian đĩa cứng được tận dụng nhiều hơn. Ngoài ra với khả năng hỗ trợ kích thước của phân vùng từ 2GB lên 2TB và chiều dài tối đa của tên tập tin được mở rộng đến 255 ký tự đã làm cho FAT16 nhanh chóng bị lãng quên. Tuy nhiên, nhược điểm của FAT32 là tính bảo mật và khả năng chịu lỗi (Fault Tolerance) không cao.
NTFS (New Technology File System): được giới thiệu cùng với phiên bản Windows NT đầu tiên (phiên bản này cũng hỗ trợ FAT32). Với không gian địa chỉ 64 bit, khả năng thay đổi kích thước của cluster độc lập với dung lượng đĩa cứng, NTFS hầu như đã loại trừ được những hạn chế về số cluster, kích thước tối đa của tập tin trên một phân vùng đĩa cứng.
NTFS sử dụng bảng quản lý tập tin MFT (Master File Table) thay cho bảng FAT quen thuộc nhằm tăng cường khả năng lưu trữ, tính bảo mật cho tập tin và thư mục, khả năng mã hóa dữ liệu đến từng tập tin. Ngoài ra, NTFS có khả năng chịu lỗi cao, cho phép người dùng đóng một ứng dụng “chết” (not responding) mà không làm ảnh hưởng đến những ứng dụng khác. Tuy nhiên, NTFS lại không thích hợp với những ổ đĩa có dung lượng thấp (dưới 400 MB) và không sử dụng được trên đĩa mềm.
So sánh giữa FAT32 và NTFS
NTFS là hệ thống file tiên tiến hơn rất nhiều so với FAT32. Nó có đầy đủ các đặc tính của hệ thống file hiện đại và FAT32 không hề có. Bạn nên dùng NTFS để thay thế cho FAT32 vì các lý do sau:
- FAT32 không hỗ trợ các tính năng bảo mật như phần quyền quản lý, mã hoá.. như NTFS. Vấn đề này đặc biệt hiệu quả đối với Windows. Với NTFS, bạn có thể không cần sử dụng các tiện ích mã hoá hay đặt mật khẩu giấu thư mục v.v, vì đây là đặc tính đã có sẵn của NTFS, chỉ cần bạn biết khai thác. Việc xài các tiện ích không nằm sẵn trong hệ điều hành để thao tác trực tiếp với đĩa vẫn có ít nhiều rủi ro.
- FAT32 có khả năng phục hồi và chịu lỗi rất kém so với NTFS. Có một số ý kiến cho rằng NTFS không tương thích nhiều với các chương trình kiểm tra đĩa hay sửa đĩa mà người dùng đã quen thuộc từ lâu, như vậy sẽ vô cùng bất tiên trong trường hợp đĩa bị hư sector. Nên yên tâm vì NTFS là hệ thống file có khả năng ghi lại được các hoạt động mà hệ điều hành đã và đang thao tác trên dữ liệu, nó có khả năng xác định được ngay những file bị sự cố mà không cần phải quét lại toàn bộ hệ thống file, giúp quá trình phục hồi dữ liệu trở nên tin cậy và nhanh chóng hơn. Đây là ưu điểm mà FAT 32 hoàn toàn không có.
Khi mà mất điện đột ngột thì Windows 98, 2000, XP… đều phải quét lại đĩa khi khởi động lại nếu đĩa đó được format bằng chuẩn FAT32. Trong khi format đĩa cứng bằng NTFS thì lại hoàn toàn không cần quét đĩa lại, bởi vì hệ thống dùng NTFS có được những thông tin về tính toàn vẹn dữ liệu ghi trên đĩa và nó mất rất ít thời gian để biết được về mặt logic đĩa của mình có lỗi hay không và nếu có thì hệ thống cũng tự phục hồi một cách cực kỳ đơn giản và nhanh chóng. Với FAT32 thì nó phải rà quét toàn bộ lâu hơn nhiều. Một hệ thống Windows 2000, XP sẽ ổn định hơn nhiều nếu cài trên phân vùng được format bằng NTFS. Ngoài ra NTFS còn được trang bị công cụ kiểm tra và sửa đĩa rất tốt của Microsoft.
- NTFS có khả năng truy cập và xử lý file nén ngon lành hệt như truy cập vào các file chưa nén, điều này không chỉ tiết kiệm được đĩa cứng mà còn gia tăng được tuổi thọ của đĩa cứng.
- Nhiều người phàn nàn rằng không thể truy cập vào các đĩa cứng được format bằng NTFS khi đang ở DOS, Windows 98 hoặc WinME… Thực ra thì DOS, Windows 98 và Windows ME đã quá cũ và các phần mềm còn hữu dụng của chúng cũng không còn bao nhiêu.
- NTFS đặt được quota sử dụng cho người dùng, vô cùng tiện dụng cho các hệ thống máy ở công ty. Đặc biệt tiện dụng khi “âm thầm” cấm được con cái sao chép những phim ảnh độc hại vào các thư mục “bí mật” của chúng trong đĩa cứng.
Ngoài ra, NTFS còn có rất nhiều tiện ích tuyệt chiêu chuyên sâu khác cho giới người dùng cao cấp khác như “mount partition”, tạo “hard link” tới một file, hỗ trợ dùng RAID v.v
- Nếu bạn đã thực sự quyết định chọn NTFS làm “duyên giai ngẫu” thì bạn có thể từ bỏ hẳn FAT 32 kể từ nay. Hiện có rất nhiều tiện ích chuyển đổi từ FAT 32 sang NTFS tùy bạn lựa chọn. Tiện hơn cả là dùng bộ tiện ích có sẵn trong các đĩa CD khởi động bằng Hirenboot đang rất phổ biến hiện nay.
Tuy thế, FAT32 vẫn còn tỏ ra hữu dụng trên các máy tính cấu hình quá yếu ớt, chỉ có thể chạy được Windows 98. FAT16 và FAT32 vẫn được dùng để định dạng cho các loại thẻ nhớ, vì các thiết bị chấp nhận thẻ nhớ như máy ảnh số, máy nghe nhạc vẫn chưa thấy loại nào tương thích với NTFS cả. FAT16 luôn là lựa chọn hàng đầu khi bạn muốn copy dữ liệu của mình từ một máy tính chạy Windows sang máy chạy hệ điều hành khác như Mac chẳng hạn. Hầu hết các máy Mac hiện nay đều không thể nhận dạng các thẻ nhớ USB được định dạng bằng FAT 32.
Kường™
13-07-2008, 09:57 AM
Việc tháo lắp các bộ phận bên trong CPU của máy tính thực ra không khó khăn gì, tuy nhiên đối với một số người dùng không chuyên thường có tâm lý e ngại khi "đụng" tay chân vào những thiết bị tinh vi "vi tính" đó.
Bài viết này hướng dẫn cách tháo lắp và cài đặt một bộ phận ổ CD Rom máy tính, bộ phận này thường hay được tháo lắp và nâng cấp nhất với các loại ổ CD, Rewrite CD, DVD, Rewrite DVD bạn tháo lắp từ máy nọ sang máy kia, cho bạn bè mượn một cách dễ dàng hơn.
Thao tác đầu tiên bao giờ cũng là rút điện nguồn và lật ngửa Case (vỏ máy tính) lên. Nếu là cài đặt ổ đĩa CD ROM và nó không được đặt trên thanh ngang thì bạn cần phải tháo bỏ cả hai bên cạnh của Case. ổ CD được lắp với hai con ốc vít mỗi bên nếu bạn không tiết kiệm, bằng không thì cái ổ CD sẽ có thể rung lên rất mạnh nếu chúng không được bảo vệ hợp lý. Chúng ta tháo tất cả các ổ cắm vào bộ nối ở phía sau của ổ CD (xem hình chụp để quan sát cách kết nối) và tháo bốn con ốc xoắn.
http://www.quantrimang.com/photos/Image/062006/05/img1.jpg
Thưc tế cho thấy ổ CD hay ổ burn CD (Rewrite CD, ghi CD) đều giống y hệt về hình dạng so với ổ DVD hay ổ burn DVD, bạn không thể chỉ ra được sự khác nhau giữa chúng ngoại trừ cái nhãn ở mặt ngoài ổ. Các ổ này đều được tháo bỏ hay lắp đặt từ phía mặt trước của Case, vì cái khay đĩa CD được sử dụng từ phía trước. Nếu có hơn 1 khoang được sử dụng, thì cũng không vấn đề gì khi bạn đặt ổ đĩa vào, những khoang phía dưới tiện hơn vì có trọng tâm thấp hơn và cần độ dài dây cáp ngắn hơn. Đừng quên tháo dây nguồn, IDE hay cáp âm thanh khỏi mặt sau của ổ CD. Đôi khi, dây nguồn lắp tương đối chặt, tay bạn gái thường không dễ để tháo chút nào.
Cả ổ CD và DVD, và những bộ phận ghi tương đương (Burner), đều là những ổ IDE song song. Có cả những ổ SCSI đắt tiền hơn thích hợp cho những ứng dụng đặc biệt, thông thường là kiểu mảng, nhưng chúng ta không đề cập tới chúng ở đây. Những ổ IDE song song được trang bị cầu nối nhảy cóc Master/Slave (Jumper) cho phép người điều khiển IDE định chỉ được 2 ổ riêng biệt trên một kênh đơn lẻ. ổ đĩa mô tả ba bộ jump: Master, Slave, và Cable - Cáp chọn (dây cáp dùng để chọn). Cách dễ dàng nhất để chắc chắn một ổ burn đĩa CD vừa mới được lắp đặt sẽ được định chỉ thích hợp là đặt nó cạnh cái ổ CD cũ để chắc rằng cặp jump được chọn là giống nhau.
Ổ burn CD tiếp đó được cài đặt vào case, và được bảo vệ với 4 ôc vít. Nếu bạn làm việc này với cái Case đứng thẳng thì phải chắc chắn rằng cái ổ CD thực sự được đỡ từ phía dưới khi bạn đẩy nó vào trong vì đối với mốt số case siêu rẻ, chúng có bộ khung mở và vì thế mà cái ổ có thể bị rơi khỏi tay bạn và làm hỏng cả Main.Vì mặt ngoài của ổ ghi CD sẽ mở ở phía trước của Case, nên hãy chắc chắn rằng nó ngang bằng với mặt tiền của case trước khi bạn vặn chặt 4 con ốc xoắn vào.
Bây giờ chúng tôi sẽ chỉ dẫn cho bạn cách kết nối ổ burn CD, và hãy lưu ý rằng nó giống hệt với cách kết nối ổ CD ROM, DVD ROM hay ổ ghi DVD. Cái dây nối đầu tiên bạn cần nối khi lắp đặt một ổ CD (vì ở phía dưới cùng và khó lấy nhất) đó là dây truyền âm khi chơi nhạc, cái dây này gắn với card âm thanh. Nếu bạn bỏ qua bước này thì mọi thứ vẫn hoạt động bình thường, bao gồm cả tiếng trong các trò chơi, nhưng bạn sẽ không thể nghe nhạc từ đĩa CD được.
Sợi cáp 40 dây có thể vừa khít với bộ nối của ổ burn CD, hoặc là bạn cũng có thể phải ấn nó vào cho vừa. Cái dây màu đỏ ở bên cạnh của sợi cáp sẽ chạy tới "Pin 1" của bộ nối, và nếu ổ không có nhãn hiệu thì cái dây đỏ đó sẽ cắm cạnh cái khe cắm nguồn.
Nếu ổ burn CD bạn vừa lắp vào vẫn không được máy tính nhận thiết bị thì cần xem lại các dây cắm xem đã chặt chưa và driver (phần mềm điều khiển thiết bị) xem có bị xung đột gì với các thiết bị khác không. Chúc các bạn thao tác được dễ dàng hơn sau khi đọc bài viết của tôi.
Kường™
13-07-2008, 09:58 AM
Nhiều mẹo nhỏ và những thủ thuật tưởng rằng mình đã làm đúng nhưng thực tế lại không phải, hoặc ngược lại. Hãy chia sẻ những kinh nghiệm của bạn với mọi người xung quanh.
1. Tắt máy tính mỗi đêm để giữ máy?
Sai! Máy tính của bạn không cần tắt đi mỗi ngày để nó chạy tốt. Nhiều người rất bực mình khi chờ Windows đóng và cũng không thoải mái khi phải chờ nó khởi động lại. Càng nhiều chương trình và ứng dụng thì thời gian này càng lâu. Tại sao không sử dụng XPHibernation, chức năng ngủ đông của XP bằng cách sau:
Start/turn off computer/stanby, giữ Shift nhấn Hibernation. Và lúc này máy của bạn đã được ngủ đông, khi khởi động nhanh hơn và vẫn giữ được công việc bạn đang làm dở dang.
2. Lỡ đổ một chút nước uống vào bàn phím, tức là đã tiêu bàn phím đó?
Sai! Bàn phím của bạn vẫn tồn tại trừ khi nước đổ vào quá nhiều. Bạn hãy đặt úp nó xuống một cái khăn và để đó một lát. Sau đó lau lại bàn phím và làm việc bình thường sau đó. Tuy nhiên với laptop thì không dễ vậy vì chất lỏng thấm xuống các linh kiện điện tử phía dưới, có thể làm hỏng luôn những linh kiện này. Đáng tiếc là không có bảo hành cho trường hợp này nên bạn cần đề phòng với laptop hơn.
3. Để nam châm cạnh đĩa mềm, nội dung trong đĩa sẽ bị xóa?
Đúng! Đặt nam châm vào đĩa mềm thì nội dung trong đĩa sẽ bị xóa hết.
4. Cứ dùng phần mềm quét virus được cập nhật để kiểm tra virus thường xuyên là an tâm?
Sai! Nếu bạn có phần mền quét virus đã được cập nhật, bạn vẫn có thể bị spyware. Nó chạy ở nền windows và cho máy chậm lại. Hãy tìm các phần mềm diệt spyware mạnh để điều trị nó.
5. Sẽ không thể bị spyware nếu có phần mềm diệt spyware hoạt động hiệu quả?
Sai! Vì các phần mềm diệt spyware có hiệu quả rất khác nhau. Theo trắc nghiệm mới đây của PC World, các phần mềm này chỉ diệt được 66%-90% là cùng. Nên cài 2 phần mềm cùng lúc sẽ chắc ăn hơn.
6. Pin của laptop sẽ kém nhanh nếu cứ sạc trước khi nó hết điện?
Sai! Trừ khi bạn đang sở hữu một máy laptop sản xuất đã lâu lắm rồi. Ngày nay mọi laptop đều dùng pin lithiumion nên không cần phải đợi đến hết pin mới được sạc
Kường™
13-07-2008, 10:32 AM
Bạn có nắm rõ những thủ thuật, những tiện ích mà Windows XP mang lại, ví dụ như chèn ngày giờ hiện hành bằng phím tắt, bật tắt hiển thị font trong danh sách, hay tuỳ biến hiển thị file và folder trong Windows XP. Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu những thủ thuật đó.
Chèn ngày giờ hiện hành bằng phím tắt
Khi cần chèn ngày giờ hiện hành, bạn có thể dùng phím tắt sau cho nhanh:
Chèn ngày hiện hành: nhấn Ctrl - ; (dấu chấm phẩy). Chèn giờ hiện hành: nhấn Ctrl - Shift - ; (dấu chấm phẩy).
Nếu muốn chèn cả ngày và giờ thì nhấn Ctrl - ; rồi nhấn cách khoảng trắng và nhấn tiếp Ctrl - Shift - ;
Bật tắt hiển thị font trong danh sách
Khi bạn chọn Font chữ từ danh sách font trên thanh công cụ, để danh sách hiển thị mỗi tên font mang kiểu font chữ đó luôn thì bạn bấm chuột phải lên thanh công cụ, chọn Customize, chọn tab Options, đánh dấu chọn mục List font names in their font rồi nhấn OK.
Tuỳ biến hiển thị file và folder trong Windows XP
Trong Windows XP, bạn có thể điều khiển được nhiều chức năng hiển thị tập tin và thư mục theo ý bạn. Ðể dễ dàng nhìn tập tin trong cửa sổ Windows bạn có thể điều chỉnh như sau: bấm đúp chuột vào My Computer, chọn menu Tools/Folder Options, chọn tab View. Trong cửa sổ này, bạn sẽ chọn những chức năng nằm trong danh sách Advanced Settings như sau:
Automatically search for network folders and printers: Tự động tìm tất cả những máy in và folder được share trên mạng và hiển thị trong My Network Places.
Display file size information in folder tips: Hiển thị dung lượng những tập tin nằm trong folder bạn đang chọn lên trên tooltip.
Display simple folder view in Explorer's Folder list: Hiển thị tất cả những folder nằm trong folder bạn đang bấm trong cửa sổ Folder của Windows Explorer.
Display the contents of system folder: Hiển thị nội dung của tất cả những thư mục hệ thống như là Windows, System, Documents and Setting... Theo mặc định nội dung trong những thư mục này sẽ bị ẩn đi.
Display full bath in the address bar: Hiển thị trong ô Address đầy đủ địa chỉ đường dẫn của folder đang mở.
Display full path in the title bar: Hiển thị trên thanh tiêu đề của cửa sổ đầy đủ đường dẫn của folder đang mở.
Do not cache thumnails: Khi bạn không sử dụng chức năng nay thì Windows khi hiển thị Folder nào đó sẽ lưu thông tin Thumnails của Folder lại để sử dụng trong lần mở tiếp theo cho nhanh hơn. Nếu bạn không muốn lưu những thông tin Thumnails thì chọn để không sử dụng, đương nhiên là sẽ bị chậm mỗi lần mở Folder theo dạng Thumnails.
Hide protected operating system files (Recommended): ẩn đi những file hệ thống để tránh sự xoá nhầm hoặc thay đổi khác.
Remember each folder's view settings: Lưu lại chế độ hiển thị đã thiết lập cho từng folder.
Restore previous folder windows at logon: Mở lại những cửa sổ khi bạn Login vào máy mà trước khi Logoff bạn không tắt chúng đi.
Show Control Panel in My Computer: Hiển thị Control Panel trong cửa sổ My Computer.
Show encrypted or compressed NTFS files in color: Ðánh dấu màu cho những folder mà bạn đã nén hoặc đã mã hóa chúng trên ổ đĩa NTFS. Chức năng này không hiệu lực cho những tập tin nén dạng ZIP.
Show pop-up description for folder and desktop item: Hiển thị popup thông tin chi tiết về folder hoặc những item có trên Destop khi bạn di chuyển chuột lên trên nó.
Use simple file sharing: Thông thường nếu bạn sử dụng máy trên mạng thì có thể chia sẻ những folder cho nhau nhưng nếu chức năng này chọn thì sẽ không chia sẻ thông tin được.
Tùy biến một Folder
Bạn có thể thay đổi thư mục phim ảnh, nhạc, hình ảnh để dễ nhớ hoặc dễ nhận ra folder đó bằng cách thay đổi hình ảnh đặt trên biểu tượng folder hoặc những kiểu đặc trưng do Windows cung cấp. Chỉ cần bấm chuột lên folder cần tuỳ biến nó, chọn Properties từ menu bung ra, chọn tab Custommize, bên trong có những mục sau cho bạn chọn:
Use this folder type as templace: Chọn những kiểu đặc trưng có sẵn do Windows cung cấp.
Also apply this template to all subfolders: Thiết lập kiểu chọn trên cho tất cả những folder nằm bên trong folder hiện hành.
Choose picture: Chọn hình ảnh thể hiện trên folder.
Restore default: Trả về thiết lập mặc định ban đầu.
Change Icon: Thay đổi biểu tượng cho folder của bạn
Kường™
13-07-2008, 10:40 AM
. Huỷ cài đặt hiện thỉ file nén (zip) trong Windows XP
Trong Windows XP các file nén dạng zip được hiện thị dưới dạng thư mục (folder). Để huỷ bỏ việc hiện thị này bạn làm như sau:
- Mở chế độ dòng lệnh (Command Line: Start/run/cmd ) ra.
- Đánh lệnh: regsvr32 /u zipfldr.dll
Để hiện thị lại như ban đầu bạn dùng lệnh: regsvr32 zìpfldr.dll
2. Tắt thông báo lỗi (Error Reporting)
Nếu bạn đang sử dụng WindowsXP chắc hẳn bạn đã từng nhận được hộp thoại thông báo
Thông báo này hiện thị khi máy tính của bạn có ứng dụng nào dó bị lỗi do chúng không được tắt đúng qui cách (khởi động lại máy khi các ứng dụng đang chạy, máy bị treo cứng bạn buộc phải nhấn restart lại…).
Thường thì thông báo xuất hiện sau khi máy đã được khởi động lại sau một sự có nào đó. Thông báo này nhắm mục đích gửi lỗi này đến Microsoft.
Windows cho phép bạn tùy biến các thông báo lỗi này bằng cách: (vào System trong Control Panel chọn Advanced chọn Error Reporting .
Để không hiện thị những thông báo lỗi này về sau nữa bạn bỏ lựa chọn: But notify me when critical errors occur.
3. Ngăn chặn việc ghi dữ liệu vào thiết bị lưu trữ là USB
Chắc hẳn hầu hết các bạn sử dụng máy tình đều có trang bị cho mình một thiết bị lưu trữ bằng USB. Và việc trao đổi dữ liệu qua lại giữa USB là thường xuyên xảy ra có cách nào ngăn không cho người khác copy dữ liệu từ máy mình về USB của họ không? Dưới đây sẽ là cách thực hiện điều đó (Chỉ có hiệu quả với Windows XP SP2).
- Đầu tiên bạn mở Registry Editor ra (Start/ run/regedit )
- Tới:
H***_LOCAL _MACHINE\ SYSTEM\ CurrentControlSet\ Control\ StorageDevicePolicies
- Vào Edit > New >DWORD Value
- Nhập giá trị là 1 (để ngăn không cho copy vào USB), 0 (cho phép copy).
- Sau khi thiết lập giá trị bạn khởi động lại máy để thấy kết quả.
4. Xem thông tin máy tính
Để hiện thị một cách đầy đủ và rõ ràng những thông tin máy tính của bạn rất đơn giản bạn làm như sau:
- Mở chế độ dòng lệnh (Start>Run>CMD)
- Ở cửa sổ dòng lệnh bạn đánh: systeminfo và Enter
Kường™
13-07-2008, 10:43 AM
VậN HàNH
Để hiểu tầm quan trọng của hộp mực, có lẽ chúng ta nên tìm hiểu sơ lược cách vận hành của một máy in laser. Qui trình in của một máy laser bắt đầu từ bộ nguồn phát là diode laser. Chùm tia laser phát ra được hướng xuyên qua một hệ thống các thấu kính hội tụ và gương để sau cùng đập vào mặt trống in. Vùng trên trống tiếp nhận tia laser sẽ trở thành một ảnh điện. Tia laser sẽ liên tục phát, rồi tắt khi nó quét trên mặt trống. Tần số chớp tắt này của tia laser được gọi tên là "chấm trên inch" (dots per inch- dpi), cũng chính là thông số quyết định độ phân giải cho trang in ( dpi càng cao, chất lượng trang in càng đẹp). Qui trình in được chia ra làm 6 bước :
1) Làm sạch: Là công đoạn làm sạch trống in đề tiếp nhận ảnh, do hai lưỡi dao, một để cạo sạch các mực thừa còn dính trên trống, lưỡi thứ hai thu các mực thừa này vào ngăn chứa. Khi các bộ phận này bị hao mòn , hư hỏng do sử dụng, thì trang in bắt đầu phát sinh trục trặc : các sọc dọc trang in, lem, bóng ma, trang in bị hạt tiêu li ti à .
2) Tích điện: sau khi trống được được làm sạch, nó sẽ được tích điện để nhận ảnh từ tia laser. Một roulô tích điện sơ cấp (PCR) sẽ tì sát vào trống, ion-hoá không khí, tạo điều kiện cho nguồn điện âm, một chiều, tích lên trống. Nếu điện tích âm này không đồng nhất, không đủ điện áp, thì mực in sẽ bị hút đến những nơi không mong muốn, hoặc không đến được những nơi mong muốn.
3) Chép: Trong công đoạn chép, tia laser sẽ làm phóng thích điện tích âm, một chiều trên trống, tạo ra một ảnh ẩn. Chính ảnh ẩn có điện áp thấp này ( -130V) sẽ tạo lực hút mực in.
4) Rửa ảnh: Aảnh ẩn này sẽ được "rửa" để thành một ảnh có thể nhìn thấy. Mực in được hút về roulô rửa ảnh hoặc bằng nam châm trong, ( công nghệ của Canon) hay bằng phóng tĩnh điện ( công nghệ Lexmark).
5) Chuyển ảnh lên giấy: Đến đây ảnh trên trống in được chuyển sang trang giấy khi nó áp lên trống. Giấy được áp một điện tích dương từ phía sau lưng, sẽ hút mực từ trống sang. Nếu điện tích yếu bản in sẽ mờ nhạt, đồng thời tạo ra nhiều mực thừa.
6) Định hình: Còn gọi là "nung chảy" là giai đoạn làm mực bám chặt vĩnh viễn vào giấy bằng nhiệt Một roulô nhiệt tạo nhiệt độ đến 180 ( C làm nung chảy các hạt mực để nó bám chết vào giấy.
MựC IN (Toner)
2 yếu tố quyết định chất lượng mực in laser là thành phần nguyên liệu và công nghệ chế tạo. Ngày nay côngthức, công nghệ chế tạo đã không có gì là bí mật. Xu hướng của hầu hết các công ty chế tạo máy in là bán máy in với giá thấp và mực in với giá cao, vì thế chúng ta luôn tìm thấy trong các quyển cẩm nang sử dụng lời dặn dò đại loại : "àchúng tôi đã thiết kế máy in, hộp mực in, công thức mực in một cách hài hoà để cung cấp cho khách hàng một chất lượng in tuyệt hảo, việc sử dụng mực không do chúng tôi sản xuất sẽ có thể gây tổn hại đến máy in, làm giảm chất lượng trang in v.và." Tuy nhiên với giá thành một toner cartridge mới khá cao ( HP 5L, 6L 49 USD ố mực nạp 5 USD) thì chắc chắn không mấy người tiêu dùng, cả các công ty VN chọn mua cartridge mới.
Trong lần đến tìm hiểu về kỹ thuật tái nạp mực in cho các hộp mực máy laser tại công ty Opal tại TP Hồ Chí Minh ( công ty chiếm thị phần lớn nhất về nạp mực tại TP HCM và Hà Nội), ông Nguyễn Thi - giám đốc công ty - đã nhiệt tình giải đáp các thắc mắc của chúng tôi quanh vấn đề nạp mực. Theo ông, thứ nhất thì không có gì bí mật và quá khó khăn trong việc nạp mực cho một toner cartridge của máy in laser, ai cũng có thể làm được nếu biết tháo lắp các chi tiết bên trong hộp mực. Điều thứ hai chất lượng mực để nạp cũng không phải là yếu tố quan trọng nhất. Thế nhưng nạp mực để có thể in hết mực (2500 trang in) thì không phải ai cũng có thể làm được. Trái với điều lo lắng về chất lượng mực xịn hay không xịn của người tiêu dùng, ông đánh giá các yếu tố, theo thứ tự quan trọng, để một ống mực tái nạp đạt chất lượng cao nhất có thể có:
Tình trạng của hộp mực trước khi phải nạp mực lần đầu tiên : người tiêu dùng cần "nâng niu" hộp mực, làm đúng và nhẹ nhàng các thao tác tháo lắp, khi kẹt giấy chuyện ưu tiên số 1 là nhẹ nhàng tháo hộp mực, không được để hộp mực ra ngoài ánh sáng quá vài phút ( nên để trong ngăn kéo hoặc bao bì đóng gói màu đen khi mới mua ), luôn luốn lấy giấy kẹt trong máy in theo chiều đi tới của trang giấy. Một cartridge sử dụng không đúng cách có thể làm hỏng chi tiết bên trong khiến việc nạp mực ( lần đầu tiên ) khó đạt chất lượng cao.
Mực in , nên chọn của các công ty sản xuất có nguồn gốc tin cậy. Nói chung không có sự khác biệt lớn giữa các thương hiệu.
Thao tác trong cách nạp mực
Kiến thức của người sử dụngQui trình của việc nạp mực gồm các thao tác sau :
Tháo rã các bộ phận của hộp mực
Làm vệ sinh ố hút sạch bụi, dò các hư hỏng hao mòn của các bộ phận.
Hút sạch mực thừa
Lắp ráp các chi tiết đã làm sạch
Nạp mực mới
In test trang đầu tiênNếu bạn mới mua máy in laser với hộp mực mới tinh, thì đây là những điều bạn rất nên thực hiện từ lần sử dụng đầu tiên:
Vệ sinh thường xuyên máy in ( tháo hộp mực cất đúng cách) hút bụi, giấy vụn bên trong máy. 80% sự cố của máy in là từ vệ sinh kém, môi trường nhiều bụi.
Khi bị kẹt giấy, lập tức lấy hộp mực cất trong hộp tối, rút giấy thuận chiều trang giấy đi tới
Không nên tắt máy in trong giờ làm việc vì muốn tiết kiệm điện. Độ ẩm cao của không khí (miền Bắc VN) cũng là nguyên nhân làm mực vón cục, gây trục trặc
Không nên sử dụng giấy quá mỏng, giấy quá xấu ( giấy thô còn sót tạp chất có thể làm xước các trống, tạo các lỗi không thể khắc phục được trên trang in. Cở GSM 70 là tốt.
Khi trang in có vệt mờ dọc, lấy hộp mực và lắc đều, nếu tình trạng trên biến mất : hộp mực sắp hết, bạn chỉ còn có thể in vài chục trang nữa thôi. Chính xác hơn bạn có thể cân hộp mực. ( HP 6L mới: 735 gram; hết mực: 635 gram)
Một cơ sở nạp mực chuyên nghiệp luôn thử in một trang trước khi nạp, ghi mã số của hộp mực để bạn chắc chắn là sẽ nhận lại hộp mực của mình chứ không phải một hộp khác, và phải đảm bảo in cho đến khi hết mực. Giá một lần nạp 150.000 đồng, cũng có thể rẻ hơn vài chục ngàn đồng (HP 6L) tuỳ nơi, nhưng đừng vì ham rẻ mà ôm lấy các phiền toái về sau. Bảo trì máy in, hộp mực đúng cách bạn có thể tái nạp hộp mực đến à 5 lần, tiết kiệm được một số tiền không nhỏ !Tóm lại việc nạp mực in, nếu thực hiện đúng phương pháp tại các cơ sở chuyên nghiệp thì hoàn toàn không có hại gì cho máy, hay chất lượng trang in cả. Chính phủ một số nước như Mỹ Nhật cũng yêu cầu các cơ quan công phải tái nạp mực in với một tỷ lệ nhất định vì mục tiêu bảo vệ môi trường.
Kường™
13-07-2008, 11:37 AM
Để làm vệ sinh bàn phím, bạn cần các vật dụng như tuốc-nơ-vít 2 cạnh cỡ trung bình, giấy dai và không để lại xơ, chổi nhỏ lông cứng (loại thường dùng để quét sơn), máy sấy tóc, nước sạch, cồn 70 độ, nước rửa bát, mỡ bôi trơn silicon.
Bước 1:
Tắt máy tính, tháo dây bàn phím (nếu có), đặt bàn phím ở nơi thoáng mát và đủ ánh sáng để có thể dễ dàng thao tác.
- Đặt bàn phím trên một mặt phẳng (bàn hay mặt đất sạch sẽ đều được), dùng chổi nhỏ quét nhẹ trên bàn phím để bay hết bụi bẩn nhỏ bám trên bề mặt các phím và khe dưới các phím bấm. Chú ý nên dựng đứng bàn phím khi quét.
- Lấy giấy ăn thấm một chút nước (đủ ẩm là được), lau nhẹ qua bề mặt bàn phím và các phím.
- Để bàn phím khô từ 2 đến 3 phút.
Bước 2:
- Dùng tay thuận cầm tuốc-nơ-vít, lấy ngón tay trỏ của tay không thuận làm điểm tựa cho tuốc-nơ-vít để bẩy phím, bắt đầu từ phím Ctrl bên trái, sau đó tới phím windows logo, phím Alt... Riêng những phím lớn như Space bar, Enter, Shift, Backspace (nếu lớn), phím 0-Ins bạn nên nhấc ra cuối cùng vì nó là phím tháo ra khó nhất, rất dễ bị vỡ hay nứt. Tháo phím nhẹ nhàng, không quá thô bạo với phím nào cứng đầu, vì nó đang bị níu giữ bởi những chất bẩn bên dưới phím.
- Sau khi tháo xong, nên cất riêng các phím, nếu không sẽ bị thất lạc và gây phiền hà nhiều về sau khi tìm phím thay thế.
- Với bàn phím có dây, dùng giấy thấm chút cồn, vuốt nhẹ đoạn dây cắm để làm sạch.
Bước 3:
- Bây giờ bạn dựng đứng bàn phím lên, dùng chổi nhỏ quét nhẹ nhàng nhưng thật kỹ.
- Sau khi quét, dùng giấy ăn thấm một chút cồn, lau đều các khe kẽ này cho sạch và để khử mùi; thấm chút nước rửa bát lau nhẹ nhàng và đều tay để rửa sạch những vết bẩn khó tẩy (tránh để nước rửa rớt vào bên trong các phím nẩy bằng nhựa dẻo dưới bàn phím).
Bước 4:
- Trong lúc lau quét phần chính của bàn phím, đưa các phím đã tháo rời ra vào trong một chậu nước sạch, ngâm từ 5 đến 10 phút. Sau khi ngâm, dùng giấy ăn mềm có thấm cồn (hoặc nước rửa bát tùy độ bẩn bám vào phím) lau kỹ từng phím.
- Sau khi lau sạch các phím, tiếp tục ngâm nước chừng 5 phút, sau đó lau khô hoặc sấy với máy sấy để chế độ mát (sấy nóng sẽ gây nứt và vỡ phím).
Bước 5:
- Lấy một chút mỡ silicon bôi đều vào thành trong và ngoài các lỗ bấm chứa phím, việc bôi mỡ vào sẽ giúp phím gõ được nhạy hơn, êm hơn.
- Lắp lại các phím vào bàn phím theo thứ tự ngược lại với lúc tháo ra, không tì quá mạnh để tránh những tổn thương không đáng có.
Vậy là bạn đã hoàn thành công việc bảo trì bàn phím của chính mình mà không cần đến sự trợ giúp của các kỹ thuật viên máy tính. Giờ là lúc bạn thực hiện công việc làm sạch bàn phím và tăng thêm niềm cảm hứng làm việc.
Lưu ý: Mỡ bôi trơn silicon có thể mua tại các cửa hàng đồ điện ở chợ Nhật Tảo (TPHCM) hoặc chợ Hòa Bình (Hà Nội). Nên dùng hạn chế, vì bôi nhiều sẽ có mùi chua khó chịu.
Kường™
13-07-2008, 01:59 PM
Trước tiên, hãy cập nhật phần mềm phòng chống vi rút và phần mềm gián điệp/quảng cáo, phần mềm tường lửa v.v... Tiếp đến, khởi động lại các phần mềm này để phát hiện vi rút, phần mềm gián điệp đã xâm nhập vào máy tính. Một vài phần mềm gián điệp hay vi rút sẽ sử dụng máy tính của bạn như một bàn đạp để tấn công các máy tính khác, khi đó đường truyền Internet sẽ bị chiếm hết băng thông bởi các hoạt động "bất hợp pháp" và dẫn đến tình trạng nghẽn mạch.
Sau khi chắc chắn máy tính không nhiễm vi rút hay phần mềm gián điệp, hãy thực hiện thủ tục kiểm tra xem kết nối mạng của máy tính có tốt không. Chọn Start.Run, nhập vào dòng lệnh command /k ipconfig, rồi ấn <Enter>. Một cửa sổ dòng lệnh sẽ xuất hiện và hiển thị các thông tin thiết lập mạng của máy tính, trong đó có địa chỉ IP. Tiếp tục, thực hiện lệnh ping ipaddress, với tham số "ipaddress" chính là chuỗi số xuất hiện sau cụm từ "IP Address" trên màn hình kết quả của lệnh command /k ipconfig vừa thực hiện.
Nếu cửa sổ dòng lệnh xuất hiện một loạt thông báo (Hình 1) giá trị thời gian được tính bằng đơn vị miligiây, thì kết nối mạng của máy tính đang hoạt động tốt. Ngược lại, nếu lệnh ping thất bại (màn hình xuất hiện thông báo "Destination host unreachable") thì card mạng hay đường nối giữa máy tính với thiết bị mạng như hub, router, modem... có vấn đề. Nhập vào lệnh exit, rồi ấn <Enter> để đóng cửa sổ dòng lệnh.
Để khắc phục hiện tượng này, trước hết hãy khởi động lại hub, router hay modem. Nếu những thiết bị này không có nút tắt/mở nguồn, hãy tháo chúng ra khỏi nguồn cấp điện, đợi trong vài phút, gắn thiết bị lại, khởi động lại máy tính và chờ xem trục trặc có còn tiếp diễn hay không.
Một giải pháp khác là chuyển đổi cáp mạng. Hãy tiến hành đổi tuần tự tất cả cáp mạng nối với máy tính để xác định xem có phải một sợi cáp hỏng chính là nguyên nhân gây ra tình trạng đứt kết nối Internet hay không.
Nếu tất cả máy tính trong mạng "đứt" kết nối Internet cùng lúc (đã loại trừ khả năng nhiễm vi rút) thì nguyên nhân gây ra không phải từ Windows, phần cứng máy tính, cáp nối hay kết nối không dây (nếu có). Nhưng nếu chỉ có một máy tính trong mạng không thể truy cập Internet, nguyên nhân có thể xuất phát từ những thành phần vừa kể trên.
Trong trường hợp đang sử dụng mạng không dây, hãy kiểm tra chất lượng kết nối của card mạng không dây thông qua một biểu tượng nằm trên khay hệ thống. Nếu chất lượng tín hiệu quá kém thì bạn cần di chuyển những vật dụng có khả năng "cản" sóng ra khỏi khu vực làm việc (bàn ghế, đồ đạc, vách ngăn ...) hoặc bố trí máy tính gần điểm phát sóng hơn.
Cuối cùng, nếu tất cả thiết bị vẫn hoạt động tốt thì nguyên nhân là do nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP). Hãy điện thoại liên lạc với trung tâm hỗ trợ kỹ thuật của ISP đó để được hướng dẫn cách khắc phục. Nếu ISP không cung cấp modem hay router kèm theo khi đăng ký sử dụng dịch vụ, bạn có thể phải liên hệ với nhà sản xuất thiết bị để nhận được sự hỗ trợ cần thiết.
TỰ ĐỘNG DỌN DẸP TẬP TIN TẠM
Tập tin thực thi với chức năng dọn dẹp thư mục chứa các tập tin tạm (Temp) chỉ có thể hoạt động với Windows 98 và Windows Me. Sau đây là phiên bản mới dành cho Windows 2000 và Windows XP.
Trước tiên, khởi động trình soạn thảo văn bản NotePad và nhập vào 2 dòng lệnh sau:
rd %temp% /s /q
md %temp%
Sau đó, lưu tập tin với tên "cleantemp.bat". Để chèn tập tin này vào danh sách các ứng dụng tự khởi chạy, chọn và kéo thả tập tin này đến nút Start cho đến khi trình đơn con Startup xuất hiện.
Bạn cần lưu ý, việc thiết lập chế độ xóa nội dung thư mục Temp vào thời điểm tắt máy tính có thể gây "trục trặc" đối với vài chương trình cài đặt. Nhưng một khi các chương trình Startup đã được nạp vào hệ thống, bạn có thể yên tâm xóa sạch những tập tin không cần thiết trong thư mục Temp.
Kường™
14-07-2008, 07:22 AM
Phần 1: Giới thiệu
Một lá thư luôn có hai phần:
- Phần content: Chứa nội dung thư.
- Phần header (tiêu đề thư) chứa các thông tin về lá thư như: from, to, cc, subject, size, priority, date,...
Vì một email có thể cùng lúc gửi đến nhiều địa chỉ khác nhau nên chúng ta cần phân biệt:
To: Dùng để nhập các địa chỉ mail của những người nhận trực tiếp nội dung thư.
CC: Là chữ viết tắt của carbon copy, ta dùng để nhập các địa chỉ mail của những người nhận bản tham khảo, bản báo cáo, bản sao lưu,...
BCC: Là chữ viết tắt của blind carbon copy. Ta nhập địa chỉ mail của những người nhận bí mật, những người mà người gửi không muốn người trong To và CC biết. Đồng thời còn báo cho người bí mật này biết ta đã gửi cho những ai.
Subject: Là một câu tóm lược nội dung thư (giống như trong thư tay người ta viết ngoài bao thư: Thư mời họp, Bản hợp đồng,... giúp người nhận khi nhận về hàng loạt thư thì không cần phải xem hết nội dung từng lá thư mới biết thư nói gì.
Priority: Độ ưu tiên xem thư. Nếu là high: Thư khẩn (có dấu chấm than đỏ) phải xem và xử lý liền sau khi tải về máy; normal: thư thường; low: thư xem khi rảnh (có mũi tên hướng xuống màu xanh).
Trong các phần trên thì To và CC rất dễ bị lẫn lộn nên chúng ta hãy xem ví dụ sau:
Có một cô gái được hai chàng trai cùng yêu. Đến ngày 14-2 cô gái phải lên tiếng như sau. Chúng ta phân biệt 3 trường hợp sau đây:
- Trường hợp 1: Cô ấy soạn một email có nội dung chỉ hai chữ: “Anh yêu” rồi gửi đến To: a@domain.com; CC: b@anotherdomain.com.
Ý của email này: Đây là ba mặt một lời vì A và B đều nhận thư có nội dung giống y hệt nhau. Trong đó cô ấy nói với hai người là mình đã yêu anh A và báo cho anh B biết cô ấy đã yêu A rồi, anh đừng lộn xộn nữa!
- Trường hợp 2: Cô ấy soạn hai email có cùng nội dung chỉ hai chữ: “Anh yêu”. Thư thứ nhất To: A, thư thứ hai To: B. Ý của việc gửi thư này là cô ta đang bắt cá hai tay. (Chắc cô ta chưa tự tin nên mới làm vậy, chứ nếu như người khác thì một tay cô ấy có thể bắt hai, ba cá!).
- Trường hợp 3: Cô ấy soạn một lá thư có nội dung chỉ hai chữ: “Anh yêu” rồi To: A, B.
Ý của việc gửi thư này là cô ấy gọi hai anh lại rồi nhìn anh A nói rằng: “Anh A ơi, em thấy yêu anh”, rồi quay qua anh B cũng nói: “Còn anh, em cũng thấy yêu anh”. Nói chung thì anh nào cô ấy cũng yêu. Thôi thì anh nào tấn công tốc độ thì em sẽ nghiêng qua anh đó!
Để sử dụng dịch vụ email, bạn phải đăng ký một hộp thư ở một nhà cung cấp dịch vụ email (NCCDVE) nào đó. Ví dụ như: yahoo.com, gmail.com, hcm.vnn.vn, hcmc.netnam.vn. Sau khi đăng ký xong bạn sẽ có địa chỉ email của hộp thư là: Tên hộp thư @ tên miền của nhà cung cấp dịch vụ email. Ví dụ: chieutim@hcmc.netnam.vn.
Để truy cập đến hộp thư này các bạn cần phải có phần mềm thích hợp được gọi là email client. Tùy theo thỏa thuận giữa người dùng và NCCDVE mà người dùng có thể truy cập bằng chương trình Internet Explorer (cách này người ta gọi là web mail, truy cập thông qua HTTP: Hyper Text Transfer Protocol) hay bằng OE (cách này người ta gọi là POP Mail: Khi nhận người ta nhận bằng Post Office Protocol, khi gửi, gửi bằng SMTP: Simple Mail Transfer Protocol).
Kường™
14-07-2008, 07:23 AM
Để có thể truy cập Yahoo Mail từ e-mail client Outlook Express của trình duyệt Web Internet Explorẹ 5.x, bạn thực hiện theo các bước sau :
Mở Outlook Express lên.
Nhấp chuột lên menu Tools trong cửa sổ Outlook Express, chọn mục Accounts :
Cửa sổ Intermet Accounts xuất hiện :
Bạn click lên nút Add và chọn mục Mail.
Cửa sổ Internet connection wizard hiện ra :
Bạn nhập họ và tên của mình vào text box Your Name. Xin chú ý : Đây sẽ là tên người gửi (From) xuất hiện trên các e-mail mà bạn gửi đi sau này. Click nút Next.
Cửa sổ Internet E-mail Address xuất hiện.
Nếu bạn đã có account truy cập vào Yahoo Mail thì hãy đánh dấu vào option "I already have an e-mail address that I would like to use" (Tôi đã có một địa chỉ e-mail mà tôi muốn sử dụng nó). Và nhập vào đó địa chỉ mail của mình ở Yahoo (thí dụ totite@yahoo.com (totite@yahoo.com) ). Rồi chọn nút Next.
Trên cửa sổ E-mail Server Names (các tên server e-mail), bạn chọn trong list của mục
"My incoming mail server is a" (server thư tới của tôi) là POP3. Và điền vào hai mục :
"Incoming mail (POP 3, IMAP or HTTP) server" (server thư đến) là : pop.mail.yahoo.com
Outgoing mail (SMTP) server" (server thư đi) là : smtp.mail.yahoo.comClick nút Next
Màn hình Internet Mail Logon xuất hiện :
Trên màn hình Internet Mail Logon, bạn khai báo Account name (tên truy cập) và Password mà bạn đã xác lập với Yahoo.
Cuối cùng, trên hộp thoại chào mừng (Congratulations), bạn click nút Finish để kết thúc.
Tuy nhiên, theo bạn Phạm Hoàng Việt, có những trường hợp bạn không thể tạo được HTTP hoặc Hotmail account trong Outlook Express. Ðể chỉnh sửa lỗi này, bạn cần phải vào trong Registry của Windows để sửa chữa lại như sau: (lưu ý là phải cẩn thận sao lưu lại Registry trước khi thực hiện).
Mở menu Start, chọn lệnh Run, nhập vào text box dòng lệnh regedit rồi click OK.
Cửa sổ Registry Editor được mở ra, bạn tìm đến vị trí H***_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Outlook Express .
Trong cửa sổ bên phải, bạn nhấn chuột phải vào mục.HTTP Mail Enabled và chọn mục Modify .
Nếu mục này không có, bạn có thể tạo ra nó như sau : nhấn chuột phải ngoài vùng trống ở cửa sồ bên phải , sau đó chọn mục New - DWORD Value.
Sau đó nhập vào nội dung là HTTP Mail Enabled rồi nhấn Enter.
Khi bạn chọn mục Modify từ menu phụ, một hộp thoại xuất hiện trong mục Value data bạn thay đổi giá trị từ 0 sang 1 rồi nhấn OK.
Thoát khỏi Registry Editor và khởi động lại Outlook Express
Kường™
14-07-2008, 07:25 AM
Cảnh báo khi xóa dữ liệu
Hầu hết người dùng hiện nay đều dùng lệnh “Delete” trong Windows để xóa dữ liệu. “Chắc ăn” hơn, họ còn vào Recycle Bin để “Empty” nó đi một lần nữa và tin tưởng rằng dữ liệu đã xóa coi như không còn tồn tại trên đời. Một số người dùng “am hiểu” hơn còn biết xóa dữ liệu “triệt để” bằng cách vào DOS để format lại ổ đĩa, hoặc xóa trực tiếp trong DOS bằng một công cụ nào đó…Tiếc rằng chỉ với vài thao tác là những dữ liệu đó có thể hoàn toàn được phục hồi nguyên xi.
Dữ liệu riêng tư của người dùng, dữ liệu mật của công ty… đều có thể bị lộ vì sự thiếu hiểu biết thấu đáo , nhất là trong các trường hợp trả lại máy tính đã thuê, vứt đi hay tặng lại máy tính cũ, chuyển máy tính cho người mới sử dụng, đem đĩa cứng đi bảo hành, cho mượn thẻ nhớ Flash v.v
Có rất nhiều trường hợp bạn rất cần xóa “sạch sành sanh” dữ liệu, chẳng hạn như xóa dữ liệu đã chép tạm từ đĩa cứng này sang đĩa cứng khác, xóa dữ liệu đã bị nhiễm virus, xóa hoặc format đĩa cứng để cài đặt lại hệ điều hành mới, xóa đi mọi thư từ, hình ảnh riêng tư v.v Nhưng tiếc rằng nếu những đĩa cứng hoặc thẻ nhớ flash này lọt được vào tay những “cao thủ” thì những dữ liệu đã xóa của bạn hều hết đều ở tình trạng “mời cụ xơi”.
Delete hay format không hoàn toàn xóa sạch được dữ liệu!
Đa số người dùng đều không biết rằng Windows và mọi ứng dụng chạy trên nó đều có “thói quen” tạo ra nhiều tập tin dữ liệu có nội dung hệt như dữ liệu mà người dùng đang thao tác và lưu trữ vào Swap Files và Page Files để hỗ trợ bộ nhớ ảo, hoặc sao lại thành một phiên bản khác để lưu vào Temp hay Temporary Files…Tất cả mọi động tác này của Windows đều nhằm mục đích bảo tồn dữ liệu của người dùng trong trường hợp mất điện đột ngột, hoặc người dùng lơ đãng quên lưu dữ liệu… nhưng thật ra đây là hành động có tính “bất cẩn” của
Windows khi tự động sao chép dữ liệu ra làm nhiều bản mà lại không biết tự động xóa đi khi đã dùng xong. Đây được xem là một lỗ hở cực lớn, tạo điều kiện “tối ưu” cho những kẻ ăn cắp dữ liệu hoạt động. Và như vậy, dù người dùng có xóa đi dữ liệu và “Emply Recycle Bin”, hoặc format lại một phân vùng đĩa cứng nào đó thì những dữ liệu đã từng lưu trên đó vẫn có thể còn nằm nguyên vẹn đâu đó trong Windows, chưa kể hiện nay có rất nhiều công cụ phục hồi dữ liệu cực mạnh có khả năng phục hồi lại mọi dữ liệu bất chấp phân vùng đĩa cứng đó đã được format tới vài lần.
Thực chất rằng với lệnh Delete, người dùng chỉ xóa đường dẫn đến dữ liệu chứ chưa xóa sạch thông tin ra khỏi đĩa cứng, điều này giống như bạn chỉ bỏ trang mục lục của một cuốn sách mà chưa hủy những trang hay chương sách tương ứng.
Lệnh Delete này chỉ được xem là lệnh “làm gọn” lại đĩa cứng bằng mắt thường chứ không có tác dụng “delete” thực sự, nên đổi lệnh Delete lại thành “Tidy” (gọn gàng) có lẽ phù hợp hơn.
Một số phương pháp hoặc tiện ích giúp xóa sạch dữ liệu!
Để bảo mật thông tin các dự án, thông báo nội bộ, số liệu tài chính-kế toán, dữ liệu khách hàng, dữ liệu cá nhân v.v... bạn cần biết đến những phương pháp hoặc phần mềm xóa sạch dữ liệu đáng tin cậy. Hiện trên thế giới đang sử dụng phổ biến một số phương pháp xóa dữ liệu an toàn như sau:
1. Single Pass (xóa 1 lần): toàn bộ khu vực DL trên ổ cứng được ghi đè (overwrite) bằng kí tự 0 hoặc 1 hoặc dữ liệu ngẫu nhiên..
2. DoD: Phương pháp xóa dữ liệu triệt để này là của Bộ Quốc Phòng Mỹ. Đây là biến thể của phương pháp Single Pass với số lần ghi đè là 7, trong đó luân phiên ghi đè bằng ký tự 0 hoặc 1 hay dữ liệu ngẫu nhiên. Tiếp đó, theo tài liệu hướng dẫn 5220.22 M, có tên là Chương trình bảo mật công nghiệp quốc gia (NISPOM) của Bộ quốc phòng Mỹ. Theo tài liệu này, để tẩy sạch dữ liệu trên đĩa phải kết hợp với các biện pháp sau:
- Khử từ: dùng từ trường để tái lập lại các thanh từ trong thiết bị bằng thiết bị khử từ loại I hay II
- Ghi đè mọi địa chỉ trên ổ cứng bằng 1 ký tự, kể cả các thành phần liên quan, rồi tiếp tục ghi đè bằng ký tự ngẫu nhiên và kiểm tra xác nhận. Tuy nhiên, BQP Mỹ cũng lưu ý rằng phương pháp này không dùng để xóa dữ liệu lưu trữ thông tin tuyệt mật
- Hủy thiết bị lưu trữ thông tin, bao gồm tháo rã mọi thành phần của thiết bị lưu trữ, đốt hủy, nghiền thành bột, cắt vụn, hoặc làm tan chảy bằng nhiệt độ cao.
3. Tẩy sạch dữ liệu bằng phương pháp Guttman: dữ liệu được xóa bằng phương pháp này được ghi đè đến những 35 lần. Phương pháp này dùng ký tự ngẫu nhiên để ghi đè và áp dụng các thuật toán mã hóa của nhiều hãng sản xuất đĩa cứng khác nhau…
4. Phương pháp hủy dữ liệu bằng cách ghi đè tùy chọn từ 1 đến 99 lần.
Ngoài ra còn khá nhiều phương pháp tẩy sạch dữ liệu do các tổ chức và quốc gia khác nhau đưa ra.
Qua việc tham khảo các phương pháp tẩy sạch dữ liệu như trên ta cảm giác rằng dường như chỉ có hai cách duy nhất để xóa sạch dữ liệu là ghi đè và phá hủy theo kiểu “tận diệt”, nhưng rõ ràng “tận diệt” là phương pháp mà ít ai dám làm vì quá tốn kém.
Người dùng cần lưu ý rằng ngay cả chuyên gia Peter Guttman, cha đẻ của phương pháp Guttman cũng đã nhận định rằng:”Không thể xóa sạch 100 % dữ liệu dù có ghi đè lên bao nhiêu lần đi nữa…” Như vậy chúng ta chỉ có thể giảm thiểu nguy cơ phục hồi được dữ liệu bằng cách ghi đè lên thật nhiều lần mà thôi… Người dùng có thể tham khảo về “Recover My Files (http://www.quantrimang.com/view.asp?Cat_ID=16&Cat_Sub_ID=0&news_id=20302)”, một công cụ phục hồi dữ liệu cực kỳ hiệu quả, bất chấp dữ liệu đã được Delete hoặc Format.
Hiện nay, hầu hết các phần mềm hỗ trợ tẩy sạch dữ liệu chạy trên nền DOS tỏ ra hiệu quả hơn những phần mềm chạy trên Windows, nhưng nó lại tỏ ra kém thân thiện với người dùng. Nhưng có lẽ việc hỗ trợ xóa dữ liệu mật nên dành cho bộ phận CNTT trong doanh nghiệp hoặc cơ quan.
Dưới đây là một vài Website cung cấp các giải pháp xóa sạch dữ liệu tương đối hiệu quả. Người dùng có thể vào các website này để tham khảo và tải bản dùng thử về dùng trước khi chọn cho mình một công cụ đắc địa nhất.
(http://www.novadevelopment.com/)
Kường™
14-07-2008, 07:26 AM
:( BCWipe: http://www.jetico.com/index.htm#/bcwipe.htm (http://www.jetico.com/index.htm#/bcwipe.htm)
Data Eraser: http://www.ontrack.co.uk (http://www.ontrack.co.uk/)
Directory Snoop: http://www.briggsoft.com/dsnoop.htm (http://www.briggsoft.com/dsnoop.htm)
Disk CleanUp: http://www.gregorybraun.com/CleanUp.html (http://www.gregorybraun.com/CleanUp.html)
Eraser: http://www.tolvanen.com/eraser (http://www.tolvanen.com/eraser)
M-Sweep: http://www.securedata.com/ms.html (http://www.securedata.com/ms.html)
PGP Wipe: http://web.mit.edu/network/pgp.html (http://web.mit.edu/network/pgp.html)
RMD: http://www.dmares.com/maresware/ps.htm#RM (http://www.dmares.com/maresware/ps.htm#RM)
WipePro+: http://www.marcompress.com (http://www.marcompress.com/)
Wipe Info: http://www.symantec.com (http://www.symantec.com/)
With Out a Trace: http://www.karmadromesoft.com (http://www.karmadromesoft.com/)
Nova Drive Erase Pro: http://www.novadevelopment.com (http://www.novadevelopment.com/)
Kường™
14-07-2008, 07:29 AM
Trời thần ạ, thế sự quá đỗi đảo điên à nghen. Ai đời cái đĩa mềm trắng 1.4 MB bây giờ lại đắt gần gấp đôi đĩa CD-R trắng. Đã vậy, “đại gia” Intel lại đang lăm le “cắt đứt dây chuông” với ổ đĩa mềm. Thế nhưng, mặc dù đã ít phổ biến như xưa, trong thực tế, vai trò của đĩa mềm vẫn còn rất ư là quan trọng tới cái sự sống còn của máy vi tính. Bị virus ư ? Muốn định dạng ổ đĩa cứng mới ư ? Hệ thống bị tiêu tán đường (corrupt) hết còn biết đường mà boot ư ? Muốn chia sẻ các file tư liệu, văn bản nhỏ ư ? Đĩa mềm đâu, đưa đây !
Phàm thì là mà rằng bất cứ ai sở hữu một máy vi tính mà không thủ sẵn ít nhất là một chiếc đĩa mềm boot máy thì cầm bằng chết mất nửa cuộc đời rồi. Nghiệt một nỗi là đĩa mềm cực kỳ mau hư hỏng. Không bị nấm mốc nó xơi thì cũng có khi xui rủi gặp cái ổ đĩa quá cũ nó nghiến rách te tua. Vì thế, việc sao lưu đĩa mềm, đặc biệt là các loại đĩa boot máy, đĩa cứu nguy,... là sự lựa chọn mà những người cẩn trọng lo xa khuyên dùng.
Đối với các đĩa boot, đĩa tự khởi động ở ngoài dấu nhắc MS-DOS, việc sao lưu chẳng đơn giản. Bạn không thể khơi khơi copy các file nội dung từ đĩa này sang đĩa khác. Bởi lẽ, cho dù vẫn có đủ các file, đĩa mới sẽ bị “tịt” ngòi, chẳng thể khởi động được đâu. Giải pháp lý tưởng nhất là tạo file hình ảnh (image) của nguyên cái đĩa mềm, có đủ cả hồn lẫn xác.
Phần mềm bé hạt tiêu (chưa tới 500 KB) Floppy Image của Rundegren.com sẽ giúp bạn sao lưu một cách cực kỳ dễ dàng và nhanh chóng các đĩa mềm.
Các file hình ảnh của đĩa mềm do Floppy Image hình thành cò 3 định dạng : file hình ảnh nén (imz), file hình ảnh không nén (img) và file hình ảnh tự chạy (exe). Tùy bạn lưạ chọn.
Mode người dùng bình thường và tiên tiến.
File hình ảnh nén và tự chạy (Self-Extractor) có thể cấu hình.
Convert các file hình ảnh sang các định dạng khác.
Thay đổi nội dung mô tả ở các file hình ảnh cũ.
Hỗ trợ các đĩa có những bad sector.
Hỗ trợ các đĩa có dung lượng từ 360 KB tới 1.4 MB.
Bạn chỉ cần click double lên icon của Floppy Image trên desktop để mở chương trình.
Trên màn hình làm việc chính có hai tác vụ : Read Floppy (tạo file hình ảnh từ đĩa mềm) và Write Floppy (tạo các đĩa mềm mới từ các file hình ảnh không tự chạy).
Menu File có các lệnh :
Change Description (thay đổi mô tả trong các file hình ảnh cũ)
Convert Image File (chuyển đổi định dạng file hình ảnh sang format khác)
Check Integrity (kiểm tra sự liền lạc của file).
Menu Edit có các lệnh :
Self-Exe Settings (các thiết đặt tạo file tự chạy, bạn có thể biên tập nôi dung hướng dẫn, nạp hình BMP của bạn hay logo công ty, ...)
Settings (các thiết đặt về ứng dụng và đĩa mềm).
1. Tạo file hình ảnh :
Bạn nhấn lên nút Browse của tác vụ Read Floppy mở cửa sổ Save Image File. Bạn duyệt tới thư mục muốn đặt file hình ảnh vào, đặt tên cho nó và chọn định dạng (ở box Save as type) rồi nhấn nút Save.
Trong Text box thứ hai, bạn gõ nội dung mô tả file hình ảnh (chẳng hạn như tên của đĩa, đặc điểm của nó,...). Sau đó nhấn nút Start để bắt đầu quá trình tạo file hình ảnh.
Khi hoàn tất sẽ có một âm thanh phát ra báo cho bạn biết.
2. Tạo đĩa mềm từ các file hình ảnh :
Bạn có hai trường hợp :
a. Nếu có file hình ảnh thuộc dạng tự chạy (.exe), bạn chỉ việc nạp đĩa mềm trống vào và chạy file hình ảnh đó trong Windows.
Click lên nút Create. Một hộp thoại xuất hiện thông báo rằng tất cả nội dung đang có trong đĩa mềm sẽ bị xóa sạch để ghi nội dung của file hình ảnh.
Nhấn nút Yes. Đĩa được tạo ra sẽ có nguyên định dạng, thuộc tính như đĩa gốc.
b. Nếu muốn tạo đĩa mềm từ một file hình ảnh IMZ và IMG, bạn dùng tác vụ Write Floppy trong màn hình làm việc chính của Floppy Image.
Nhấn nút Browse để duyệt tới thư mục chứa file hình ảnh của đĩa mềm muốn tạo. Nhấn nút Start để bắt đầu tạo đĩa.
Windows 98/ME/NT4.0/2000/XP
Bản Shareware xài thử 14 ngày. Bản Business License : 35 USD. Bản Personal License : 15 USD.
Dung lượng : 460 KB
Homepage và download : www.rundegren.com (http://www.rundegren.com/)
Download :
http://www.rundegren.com/software/floppyimage/FloppyImage.zip
http://www.rundegren.com/software/floppyimage/FI-Setup.exe
Kường™
14-07-2008, 09:45 AM
Đáp ứng yêu cầu của nhiều bạn( trong đó có các bạn ở trường cao đẳng sư phạm Thanh hoá ) về cung cấp thuật toán sắp xếp tiếng việt trong Foxpro. Chúng tôi xin giới thiệu thuật toán ở dạng chương trình nguồn trong Foxpro for windows. Thuật toán do Thạc sỹ Nguễn văn Tân trình bày. Hy vọng có thể giúp ích cho các bạn đang viết các ứng dụng.
Để sắp xếp được họ tên tiếng Việt, thì từ họ tên đầy đủ ta phải tách riêng tên và riêng họ, sau đó sắp xếp theo tên và nếu tên trùng nhau thì xét đến họ, còn để sắp xếp được tiếng Việt có dấu thì ta phải mã hoá các ký tự có dấu bằng các ký tự không có dấu và sau đó mới sắp xếp theo kiểu tiếng Anh. Sau đây là chương trình sắp xếp họ tên tiếng Việt viết trong Foxpro For Windows và tuỳ theo chúng ta lập trình bằng ngôn ngữ nào thì đều có thể dễ ràng chuyển chương trình sang ngôn ngữ đó.
SET TALK OFF
SET SAFETY OFF
SET EXAC ON
DEFINE WINDOW soanthao FROM 0,0 TO 36,106 FONT 'Arial', 10
Clear
If Not File("DANHSACH.DBF")
Create DBF DANHSACH (hoten C(25), maho C(20), maten C(15))
Append Blank
Replace hoten With "Nguyễn Hữu Bằng"
Append Blank
Replace hoten With "Nguyễn Sao Băng"
Append Blank
Replace hoten With "Lê Sao Mai"
Append Blank
Replace hoten With "Trần Thuỳ Mai"
Append Blank
Replace hoten With "Nguyễn Quang Đạo"
Append Blank
Replace hoten With "Lê Quang Đạo"
Else
Use DANHSACH
EndIf
Go Top
Brow Window soanthao Title 'Danh sách chưa sắp
xếp (ấn phím ESC để ra)'
Do While Not Eof()
hoten1=Alltrim(hoten)
l=len(hoten1)
i=l
Do While (i<>0) .And. SubStr(hoten1,i,1)<>' '
i=i-1
Enddo
ho1=Left(hoten1,i-1)
ten1=Right(hoten1,l-i)
maten1=chuyen(ten1)
maho1=chuyen(ho1)
Replace hoten with hoten1
Replace maho with maho1
Replace maten with maten1
Skip
EndDo
Index On maten+maho To nhap
Go Top
Brow Window soanthao Title 'Danh sách đã sắp xếp (ấn phím ESC để ra)'
Clear All
Return
Function chuyen
Parameter sau1
l2=len(sau1)
i2=0
sau2=''
sau3=' '
Do While i2<l2
i2=i2+1
ch=SubStr(sau1,i2,1)
Do Case
Case ch='a'
ch='aa'
Case ch='A'
ch='aa'
Case ch='ă'
ch='ab'
Case ch='Ǎ'
ch='ab'
Case ch='â'
ch='ac'
Case ch='Â'
ch='ac'
Case ch='à'
ch='aa'
sau3=sau3+'a'
Case ch='ả'
ch='aa'
sau3=sau3+'b'
Case ch='ã'
ch='aa'
sau3=sau3+'c'
Case ch='á'
ch='aa'
sau3=sau3+'d'
Case ch='ạ'
ch='aa'
sau3=sau3+'e'
Case ch='ằ'
ch='ab'
sau3=sau3+'a'
Case ch='ẳ'
ch='ab'
sau3=sau3+'b'
Case ch='ẵ'
ch='ab'
sau3=sau3+'c'
Case ch='ắ'
ch='ab'
sau3=sau3+'d'
Case ch='ặ'
ch='ab'
sau3=sau3+'e'
Case ch='ầ'
ch='ac'
sau3=sau3+'a'
Case ch='ẩ'
ch='ac'
sau3=sau3+'b'
Case ch='ẫ'
ch='ac'
sau3=sau3+'c'
Case ch='ấ'
ch='ac'
sau3=sau3+'d'
Case ch='ậ'
ch='ac'
sau3=sau3+'e'
Case ch='d'
ch='da'
Case ch='D'
ch='da'
Case ch='đ'
ch='db'
Case ch='Đ'
ch='db'
Case ch='e'
ch='ea'
Case ch='E'
ch='ea'
Case ch='ê'
ch='eb'
Case ch='Ê'
ch='eb'
Case ch='è'
ch='ea'
sau3=sau3+'a'
Case ch='ẻ'
ch='ea'
sau3=sau3+'b'
Case ch='ẽ'
ch='ea'
sau3=sau3+'c'
Case ch='é'
ch='ea'
sau3=sau3+'d'
Case ch='ẹ'
ch='ea'
sau3=sau3+'e'Case ch='ề'
ch='eb'
sau3=sau3+'a'
Case ch='ể'
ch='eb'
sau3=sau3+'b'
Case ch='ễ'
ch='eb'
sau3=sau3+'c'
Case ch='ế'
ch='eb'
sau3=sau3+'d'
Case ch='ệ'
ch='eb'
sau3=sau3+'e'
Case ch='ì'
ch='i'
sau3=sau3+'a'
Case ch='ỉ'
ch='i'
sau3=sau3+'b'
Case ch='ĩ'
ch='i'
sau3=sau3+'c'
Case ch='í'
ch='i'
sau3=sau3+'d'
Case ch='ị'
ch='i'
sau3=sau3+'e'
Case ch='o'
ch='oa'
Case ch='O'
ch='oa'
Case ch='ô'
ch='ob'
Case ch='Ô'
ch='ob'
Case ch='ơ'
ch='oc'
Case ch='Ơ'
ch='oc'
Case ch='ò'
ch='oa'
sau3=sau3+'a'
Case ch='ỏ'
ch='oa'
sau3=sau3+'b'
Case ch='õ'
ch='oa'
sau3=sau3+'c'
Case ch='ó'
ch='oa'
sau3=sau3+'d'
Case ch='ọ'
ch='oa'
sau3=sau3+'e'
Case ch='ồ'
ch='ob'
sau3=sau3+'a'
Case ch='ổ'
ch='ob'
sau3=sau3+'b'
Case ch='ỗ'
ch='ob'
sau3=sau3+'c'
Case ch='ố'
ch='ob'
sau3=sau3+'d'
Case ch='ộ'
ch='ob'
sau3=sau3+'e'
Case ch='ờ'
ch='oc'
sau3=sau3+'a'
Case ch='ở'
ch='oc'
sau3=sau3+'b'
Case ch='ỡ'
ch='oc'
sau3=sau3+'c'
Case ch='ớ'
ch='oc'
sau3=sau3+'d'
Case ch='ợ'
ch='oc'
sau3=sau3+'e'
Case ch='u'
ch='ua'
Case ch='U'
ch='ua'
Case ch='ư'
ch='ub'
Case ch='Ư'
ch='ub'
Case ch='ù'
ch='ua'
sau3=sau3+'a'
Case ch='ủ'
ch='ua'
sau3=sau3+'b'
Case ch='ũ'
ch='ua'
sau3=sau3+'c'
Case ch='ú'
ch='ua'
sau3=sau3+'d'
Case ch='ụ'
ch='ua'
sau3=sau3+'e'
Case ch='ừ'
ch='ub'
sau3=sau3+'a'
Case ch='ử'
ch='ub'
sau3=sau3+'b'
Case ch='ữ'
ch='ub'
sau3=sau3+'c'
Case ch='ứ'
ch='ub'
sau3=sau3+'d'
Case ch='ự'
ch='ub'
sau3=sau3+'e'
Case ch='ỳ'
ch='y'
sau3=sau3+'a'
Case ch='ỷ'
ch='y'
sau3=sau3+'b'
Case ch='ỹ'
ch='y'
sau3=sau3+'c'
Case ch='ý'
ch='y'
sau3=sau3+'d'
Case ch='ỵ'
ch='y'
sau3=sau3+'e'
OtherWise
ch=Lower(ch)
EndCase
sau2=sau2+ch
Enddo
sau2=sau2+sau3
Return sau2
Kường™
14-07-2008, 09:46 AM
Tắt chế độ Log-in trong XP
Vào Start -> Run -> nhập "control userpasswords2" và Enter. Khi hộp thoại mở ra, bạn bỏ dấu chọn trước dòng "Users must enter a user name and password to use this computer", OK để lưu lại thay đổi.
Lưu ý: chỉ nên tắt chế độ Log-in nếu máy tính của bạn không đòi hỏi bảo mật cao.
Máy tính trong Word
Thay vì khởi động Calculator của Windows, bạn thử mở Calculator trang bị sẵn trong Word. "Bí kíp" là vào View -> Toolbars -> Customize, trong thẻ Commands, bạn chọn Tools -> Tools Calculate. Click&drag để đặt Calculator trên Toolbar ở bất cứ chỗ nào bạn thích. Khi cần tính toán, bạn bôi đen phép tính và click "Tools Calculate". Kết quả được lưu trong Clipboard, nếu muốn in ra, nhấn Paste hoặc Ctrl+V.
Tối ưu hóa đĩa cứng
Windows "giấu" một chức năng khá hay giúp bạn tối ưu hóa đĩa cứng. Để tận dụng nó, bạn phải vào Start -> Run -> nhập Regedt32, H***_LOCAL_MACHINE\Software\Microsoft\Windows\Curr entVersion\OptimalLayout, tìm REG_DWORD có tên"EnableAutoLayout;" và thiết lập giá trị là 1 (nếu tìm không ra, bạn có thể tự tạo bằng cách click chuột phải -> New -> DWORD Value). Nhớ là phải khởi động lại máy để xem điều kỳ diệu gì sẽ xảy ra.
Đọc file PDF trong Windows
Acrobat Reader có thói quen mở trình duyệt để hiển thị riêng trang PDF mỗi lần bạn click lên link khiến tốc độ xử lý máy bị chậm hẳn lại. Để trị bệnh này, bạn vào Edit -> Preference -> Internet, tắt chế độ "Display PDF in browser" và "Allow Fast Web View". Bây giờ bạn đã có thể đọc file PDF trong Windows bình thường mà không hề ảnh hưởng đến tốc độ máy.
Tự update giờ cho máy tính
Với WinXp, bạn có thể yêu cầu máy tính tự đồng bộ hóa giờ của hệ thống với giờ trên Internet bằng cách: vào Start -> Run -> nhập Regedt32 và tìm đến thư mục H***_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\ControlSet001\Services \W32Time\TimeProviders\NtpClient. Bạn thiết lập giá trị cho "SpecialPollInterval" theo đơn vị giây. Tuyệt đối đừng chọn 1, vì nó sẽ làm khó máy tính của bạn bằng việc liên tục cập nhật thay đổi mới. Lựa chọn tối ưu là để máy tính cập nhật từng giờ, hoặc từng ngày, giá trị từ 3600 hay 86400 là được.
Mệt mỏi với AutoComplete
Windows có một chức năng mặc định khiến nhiều người cảm thấy rất khó chịu là AutoComplete. Để diệt kẻ quấy rối này, bạn vào Start -> nhập Regedt32 -> tìm đến khóa H***_CURRENT_USER\ Software\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Explorer \AutoComplete và tạo DWORD mới có tên là "Autocomplete In File Dialog" với giá trị là 0. Những lần mở và save file sau, chức năng AutoComplete sẽ chính thức "thúc thủ" và chẳng dám làm phiền bạn.
"Chuyển nhà" cho My Documents
Một ngày đẹp trời, bạn ngẫu hứng muốn My Documents chuyển sang địa chỉ mới. Rất đơn giản, bạn chỉ cần vào Start, click chuột phải lên My Documents và chọn Properties, nhập "địa chỉ mới" cho My Documents. Hoặc nhanh gọn hơn, bạn có thể tận dụng phím Move, và chọn địa chỉ mới được liệt kê sẵn trong list. Trong trường hợp gặp trục trặc thì bạn nhập lại địa chỉ mặc định của My Documents là C:\Documents and Settings\[tên User]\My Documents.
Kường™
14-07-2008, 04:19 PM
Trong quá trình sử dụng máy tính, chắc hẳn ai cũng có ít nhất 1 lần đóng nhầm cửa sổ chương trình đang sử dụng. Vậy làm sao để có thể mở lại nhanh cửa sổ đóng nhầm mà không mất quá nhiều thời gian? GoneIn60s sẽ giúp bạn làm việc đó.
Bạn có thói quen mở nhiều cửa sổ của nhiều ứng dụng cùng 1 lúc? Vậy đã có bao giờ bạn tắt phải một chương trình mà bạn không cố ý tắt nó ? Ví dụ, bạn đang mở một vài cửa sổ trình duyệt, chẳng hạn như hộp mail của bạn, chương trình soạn thảo văn bản và một chương trình sửa ảnh như Photoshop. Bạn muốn tắt chương trình Photoshop nhưng chẳng may bạn kích nhầm vào nút “X” của cửa sổ trình duyệt, do đó mà tắt luôn trình duyệt và các tab đang mở.
Bây giờ bạn phải mở lại các cửa sổ trình duyệt và load tất cả những trang bạn đã mở trước đó, đó là trương hợp nếu bạn còn nhớ địa chỉ các trang web mình đang truy cập ! Còn nếu không nhớ thì thật phiền cho bạn. Và muốn mở lại những trang đó chí ít bạn cũng phải mất đến vài phút để chờ các trang web được load hết, khá là lâu và phiền phức. Nhưng tại sao bạn không thử tiết kiệm thời gian và sức lực của mình bằng cách sử dụng GoneIn60s. Hẳn sẽ rất có ích cho bạn
GoneIn60s là một ứng dụng miễn phí có thể giúp bạn giải quyết vấn đề nhỏ này. Về cơ bản , khi nào bạn kích vào nút X trên bất cứ chương trình nào, GoneIn60s sẽ thông báo với Windows dừng hủy bỏ tiến trình hoạt động của chương trình đó trong hơn 60 giây, do đó nó tạo cho bạn một cơ hôị để ngay lập tức load nó trở lại tình trạng nguyên mẫu trước khi bạn đóng nhầm. Nếu sau hơn 60 giây mà bạn tiến hành khôi phục lại chương trình đó (nghĩa là việc tắt cửa sổ của chương trình là do bạn chứ không phải “tai nạn” thì tiến trình của chương trình đó sẽ tự động giải phóng khỏi bộ nhớ tạm thời của hệ thống)
Đầu tiên, bạn download chương trình tại đây (http://www.download.com/GoneIn60s/3000-2094_4-10793241.html?hhTest=1&tag=lst-1&cdlPid=10793240). Sau khi download, bạn kích hoạt file vừa download được để sử dụng ngay mà không cần phải cài đặt. Sau khi kích hoạt, bạn sẽ thấy một biểu tượng nhỏ trên khay hệ thống, mọi thác tác của chương trình đều được tiến hành bằng việc click chuột phải vào biểu tượng này.
Bây giờ ta hãy cùng nói qua tính năng chính của GoneIn60s. Ví dụ, bạn sử dụng Internet Explorer mở cùng 1 lúc nhiều tab khác nhau để duyệt web, nhưng không may lại tắt nhầm của sổ của IE. Thông thường, bạn sẽ phải mở lại cửa sổ của IE rồi lần lượt truy cập vào từng trang web ở mỗi tab, việc này sẽ khiến bạn mất rất nhiều thời gian. Nhưng bây giờ, sau khi bạn phát hiện ra rằng mình vừa tắt nhầm cửa sổ của IE, bạn chỉ việc click chuột phải vào biểu tượng của chương trình và chọn Recover All hoặc chọn tên của chương trình mà bạn muốn khôi phục (mà cụ thể ở đây là Internet Explorer). Nếu bạn tắt “nhầm” cùng lúc nhiều chương trình thì sau khi chọn Recover All, cửa sổ của các chương trình này sẽ được xuất hiện trở lại, ngược lại, bạn chỉ việc chọn 1 trong các chương trình vừa tắt để khôi phục lại nó. Thật đơn giản.
http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/hoanghai/GoneIn60s-1_140708.JPG
Về cơ bản, GoneIn60s hành động như một người trung gian . Khi bạn tắt cửa sổ của chương trình, nó sẽ ghi nhận yêu cầu của bạn truớc khi hệ thống làm điều đó, đợi 60 giây và sau đó gởi yêu cầu đó đến hệ thống của bạn. Lúc này hệ thống mới chinh thức kết thúc chương trình mà bạn vừa chọn tắt.
Ứng dụng này cũng có một vài tùy chọn cho chương trình mà bạn muốn thay đổi, bao gồm thay đổi khỏan thơi gian mà chương trình duy trì trước khi để cho Windows giải phóng chương trình, thêm những chương trình mà tắt trực tiếp không cần thông qua GoneIn60s... Để thiết lập các tùy chọn này, bạn kích chuột phải vào biểu tượng của chương trình và chọn Settings. Cửa sổ GoneIn60s Settings sẽ được hiện ra.
- Tại mục Time to wait chính là khoảng thời gian để duy trì hoạt động của tiến trình. Trong khoảng thời gian này bạn còn có thể khôi phục lại chương trình, sau khi khoảng thời gian này kết thúc, chương trình sẽ tự động giải phóng.
- Mục Programs to Ignore chính là mục để bạn thêm vào tên của những chương trình mà bạn có thể tắt ngay, không cần thông qua GoneIn60s. Chẳng hạn bạn thường xuyên sử dụng chương trình calculator (máy tính) của Windows để tính toán. Sau khi sử dụng xong, nếu bạn muốn tắt trực tiếp chương trình này thay vì phải thông qua GoneIn60s, bạn chỉ việc điền calc.exe (tên tiến trình của chương trình Calculator) vào khung Programs to Ignore. Cách xác định tên của các tiến trình rất đơn giản, khi bạn mở cửa sổ Settings của GoneIn60s, bạn chỉ việc rê chuột đến cửa sổ của các chương trình thì tên tiến trình tương ứng với chương trình đó sẽ được hiển thị cho bạn rõ. (chẳng hạn ở ví dụ trên calc.exe là tên tiến trình tương ứng của chương trình Calculator)
- Ngoài ra còn có mục Kill Windows, về cơ bản tùy chọn này có nghĩa là sau thời gian 60 giây kết thúc, nó sẽ không hỏi bạn có lưu trữ những thay đổi của chương trình hay không. Chẳng hạn bạn đang sử dụng Notepad để soạn thảo văn bản và bạn tắt nhầm cửa sổ của Notepad, sau 60 giấy, nếu bạn đánh dấu vào tùy chọn Kill Windows thì Notepad sẽ tự động thoát khỏi Windows thay vì hiển thị thông báo bạn có muốn save lại nội dung hay không. Do vậy bạn không nên đánh dấu vào tùy chọn này.
http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/hoanghai/GoneIn60s-2_140708.JPG
Tuy nhiên, một điểm hạn chế của GoneIn60s đó là nó chỉ có thể khôi phục lại các sổ của chương trình mà bạn đóng lại bằng cách click vào nút X ở góc phải hoặc bấm tổ hợp phím Ctrl – F4, ngòai ra nếu bạn click chuột phải vào cửa sổ của chương trình trên thanh Taskbar và chọn Close thì GoneIn60s lại không thể khôi phục lại được. Dù vậy, hạn chế này cũng không thực sự quá to tát gì, bởi vì chẳng ai click chuột phải lên taskbar mà lại tắt nhầm cửa sổ cả. Phần lớn chúng ta đều đóng nhầm cửa sổ khi click vào dấu X.
http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/hoanghai/GoneIn60s-3_140708.JPG
Tóm lại, cách sử dụng đơn giản và nhỏ gọn cũng như miễn phí là các đặc điểm nổi bật của GoneIn60s. Có thể nói rằng, với sự giúp của GoneIn60s thì những sự cố “đãng trí” đóng nhầm các cửa sổ ứng dụng của bạn sẽ được khắc phục và tiết kiệm thời gian rất nhiều
Kường™
15-07-2008, 08:47 AM
Khi cần chép file có dung lượng lớn hơn 1,4MB ra đĩa mềm, ta có thể tận dụng tiện ích DriveSpace có sẵn trong Windows. Tiện ích này có thể nén đĩa mềm của bạn từ 1,44 MB lên 2,64MB hay cao hơn tùy theo bạn chọn trong phần Options. Theo thực tế bạn có thể tăng dung lượng của đĩa mềm lên tới 5 MB.
Cách thực hiện :
- Chạy chương trình trong Start\ Programs\ Accessories\System Tools\ DriveSpace, của sổ chương trình hiện ra và bạn cho đĩa mềm vào.
- Chọn Drive\Compress...cửa sổ Compress a Drive sẽ hiện ra. Theo mặc dịnh của chương trìnhdĩa mềm 1,4 MB sẽ được nén thành 1,78 MB. Nếu muốn dùng tỉ lệ nén này thì bạn nhấn Start để bắt đầu chạy. Muốn thiết lập tỉ lệ nén cao hơn, bạn chọn phần Options, có thể chọn một ký tự khác cho ổ đĩa nén và đánh dấu vào hộp kiểm Uses Double Space compatible format để các máy có Drive Space cũ của Win 95 có thể đọc được đĩa nén của bạn. Khi thiết lập xong thì bạn nhấn OK để chương trình bắt đầu nén .
- Sau khi nén xong, nếu muốn chỉnh lại dung lượng của đĩa bạn có thể chọn menu Advanced \Change Ratio sau đó gõ dung lượng cần thay đổi vào ô Estimated rồi nhấn OK. Vậy là bạn đã có một đĩa mềm với dung lượng lớn hơn hẳn dung lượng ban đầu. Chú ý : Khi dùng đĩa nén này với máy khác bạn nhớ chạy DriveSpace, rồi chọn Advanced\Mount sau khi chọn ổ A, và nhấp OK. Và khi muốn trả đĩa về trạng thái ban đầu bạn chọn menu Drive và chọn Uncompress.
Kường™
15-07-2008, 11:49 AM
Điều khó chịu nhất đối với người dùng Net thường xuyên là kết nối chậm chạp, hoặc trình duyệt “lờ đờ” không tải nổi trang. Mặc dù phần lớn lỗi thuộc về nhà cung cấp dịch vụ, bạn có thể khắc phục phần nào tình trạng qua vài bước sau đây.
Trước hết là kiểm tra tốc độ kết nối thực có được như nhà cung cấp dịch vụ quảng cáo hay không. Cách đơn giản nhất là sử dụng các dịch vụ miễn phí như speedtest (http://www.speedtest.net/). Chú ý: tốc độ kết nối cũng tuỳ thuộc vào vị trí địa lý đặt máy chủ. Nếu được, nên chọn server thử nghiệm gần với vị trí server bạn hay kết nối tới nhất.
http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/hoanghai/speedtest01-020608.jpg
1. Cổng giao tiếp
Có vẻ ít được chú ý tới, nhưng bạn nên kết nối vào Internet qua cổng ethernet thay vì cổng ****** cổ lỗ hay USB. Nếu không có cổng này, bạn nên tính chuyện nâng cấp phần cứng.
2. Không đủ RAM
Phần mềm hiện nay ngốn rất nhiều RAM, thậm chí ngay cả trình duyệt phổ biến như Firefox, Opera cũng vậy. Hiện nay giá RAM ngày càng giảm, do đó đừng ngại bổ sung bộ nhớ cho PC của bạn nếu muốn công việc “thông suốt”.
3. Chọn trình duyệt khác
Lựa chọn trình duyệt web ảnh hưởng khá lớn đến tốc độ làm việc, đặc biệt với người tiếp xúc máy tính thường xuyên. Thông thường các trình duyệt dựa trên Mozilla, nổi tiếng nhất là Firefox sẽ có tốc độ xử lý tốt nhất, sau đó là đến Opera và cuối cùng là “họ hàng” nhà Internet Explorer của Windows.
Ngay cả khi đã chọn được trình duyệt như ý, chú ý không bắt chúng “chở” quá nhiều add-on, do các phụ kiện này ngốn rất nhiều bộ nhớ và đôi khi không tương thích gây trục trặc. Nhưng nếu có sẵn RAM, bạn có thể cài bất cứ thứ gì mình muốn.
http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/hoanghai/speedtest03=020708.jpg
4. Tăng tốc trên Windows XP
Windows XP “bảo lưu” 20% băng thông mạng dành cho các ứng dụng đòi hỏi ưu tiên, như tự động cập nhật hoặc kiểm tra spyware. Nếu muốn tận dụng nốt phần băng thông này, thực hiện các bước sau:
- Nhấn nút Windows+R và gõ gpedit.msc trong cửa sổ Run
- Tìm Computer Configuration > Administrative Templates
- Tìm mục Network và chọn QoS Packet Scheduler
- Click đúp vào Limit Reservable Bandwidth và chọn enable
- Sửa thông số Bandwidth limit về 0 và nhấn Apply
- Khởi động lại PC
5. Các công cụ tinh chỉnh hệ thống
Có rất nhiều phần mềm tuỳ biến hệ thống được quảng cáo “tăng tốc độ Internet”. Đa số các phần mềm miễn phí tập trung vào chỉnh sửa registry của Windows, trong khi dịch vụ đóng phí “dẫn dắt” luồng dữ liệu ra/vào PC bạn qua hệ thống máy chủ của mình. Bạn chỉ có cách thử lần lượt để biết chính xác công dụng. nhưng thông thường, các phần mềm này có tác dụng rất ít, hoặc thậm chí .. vô dụng.
trik dantri.com
Kường™
15-07-2008, 11:51 AM
http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/hoanghai/turnthingsoffout-300608.jpgFirefox 3 ổn định và bảo mật hơn nhiều so với FF2, nhưng cũng có thêm vài tính năng khó chịu, như thanh địa chỉ “tiện lợi không cần thiết”. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn tắt bỏ chức năng này.
Tắt thanh địa chỉ “tiện lợi không cần thiết”
http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/hoanghai/turnthingsoff-300608.jpg
Cơ chế gợi ý dựa theo cả bookmark và URL của thanh address trên FF là cải tiến ấn tượng nhất của phiên bản 3. Tuy nhiên, nếu bạn không thích chức năng này, hoặc dùng chung PC & không muốn người khác biết thông tin lướt web của mình, có thể thử một trong vài cách sau:
- Gõ “about:config” vào thanh địa chỉ, xác nhận cảnh báo. Tìm dòng “browser.urlbar.maxRichResults”, click đúp vào dòng đó và chỉnh về 0. Xoá cache trình duyệt (Tools> Options> Privacy, nhấn clear now tại dòng “Ask me before clear private data”, xác nhận), khởi động lại, và bạn sẽ trở về với FF quen thuộc “ngày xưa ấy”. Dòng “browser.urlbar.matchonlytyped” khi chuyển value từ “false” về “true” cũng cho kết quả tương tự.
- Tìm và cài add-on Oldbar (http://addons.mozilla.org/en-US/firefox/addon/6227). Addon này sẽ “làm gọn” các gợi ý rườm rà của thanh địa chỉ, nhưng vẫn giữ nguyên kết quả tìm kiếm.
Chạy các add-on “quá đát” trên Firefox 3 http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/hoanghai/turnthingsoff2-300608.jpg
Firefox 3 ra mắt được hai tuần, các add-on được nhiều người dùng đều đã cập nhật đầy đủ. Nhưng nếu add-on bạn cần vẫn chưa chạy được trên Firefox 3, và hướng dẫn sửa file .xml quá khó hiểu để làm theo, hãy thử qua MR Tech Toolkit (http://addons.mozilla.org/en-US/firefox/addon/421). Chỉ việc download, cài đặt và bỏ chọn “enable addons compability checking”, Firefox sẽ chấp nhận mọi addon “quá đát”. Chú ý rằng nhiều addon cũ có thể gây lỗi nếu cố chạy trên FF3.
MR Tech Toolkit cũng là add-on quản lý khá đa năng dành cho người dùng có kinh nghiệm, giúp bạn tuỳ biến nhiều tính năng ẩn của FF.
Kường™
16-07-2008, 09:27 AM
View HTML Source
Hiển thị ngôn gữ siêu văn bản
Tạo chữ và biểu tượng chạy trong Mail và Forum
View HTML Source – Hiển thị ngôn ngữ siêu van bản- Tạo hiệu ứng trong mail
Các bạn muốn tạo chữ và hình ảnh di chuyển trong mail ( Yahoo!mail )
Trước hết các bạn đã biết là tất cả các ảnh hay biểu tượng có địa chỉ trên mạng là có thể Copy về để sử dung. Để Copy ảnh vào mail bạn làm như sau : Kick phải chuột vào ảnh và chon Copy .
Đầu tiên bạn mở màn hình soạn thảo và Past ảnh (hoặc viết chữ )vào một nơi bạn thấy hợp lý :
Sau đó bạn kick vào View HTML Source:
Nhìn lên màn hình ta thấy được mã HTML của ảnh :
<IMG src="http://www.wallpapersking.com/Wallpapers___/Animal_/Bunny/005.jpg">
Ta lấy luôn địa chỉ này làm ví dụ và kí hiệu nó là Đoạn text
+ Để làm cho biểu tương chạy từ trái ( phải) sang phải( trai) bạn phải thêm vào đầu và cuối Đọạn text như sau :
<MARQUEE DIRECTION=RIGHT(LEFT)>Ðoạn text</MARQUEE>
VD :
<MARQUEE DIRECTION=RIGHT><IMG src="http://www.wallpapersking.com/Wallpapers___/Cartoons_/Likable/tn_012.jpg" </MARQUEE>
+Muốn làm cho biểu tượng chạy trên một nền có màu nào đó như Blue chẳng hạn bạn thêmvào như sau:
<MARQUEE bgColor=#b0ed00 direction=RIGHT(LEFT)>Ðoan text</MARQUEE>
VD :
<MARQUEE bgColor=#b0ed00 direction=RIGHT><IMG src="http://www.wallpapersking.com/Wallpapers___/Cartoons_/Likable/tn_012.jpg" </MARQUEE>
+ Muốn cho biểu tượng di chuyển đổi hướng khi chạm đường biên :
<MARQUEE behavior=ALTERNATE>Ðoạn text</MARQUEE>
VD:
<MARQUEE behavior=ALTERNATE Bgcolor=#b0ed00 Direction=right><IMG src="http://www.wallpapersking.com/Wallpapers___/Cartoons_/Likable/tn_012.jpg" </MARQUEE>
_________________
Kường™
16-07-2008, 09:27 AM
Disable Autoplay of Audio CDs and USB Drives:
Vào Start Menu => Run rồi gõ: gpedit.msc
Chọn tiếp Administrative Templates \ System
Nhấp đúp lên phần Turn off Autoplay
Nếu chỉ tắt của CD-ROM thì bạn chọn CD-ROM Drivers, nếu tắt hết thì chọn All Drives trong phần Turn off Autoplay on
Turn off Autoplay on CD-ROM:
Cách này xài Registry, bạn vào Registry Editor bằng cách vào Start => Run (hoặc tổ hợp phím Logo windows + R) => gõ regedit. Tiếp đó bạn chọn H***_LOCAL_MACHINE => SYSTEM => CurrentControlSet => Services => Cdrom
Nhấp đúp vào mục Autorun, đổi giá trị 1 thành 0, sau đó khởi động lại máy!
Kường™
16-07-2008, 09:29 AM
TT
Phím tắt
Tác dụng
1Ctrl+1
Giãn dòng đơn (1)
2Ctrl+2
Giãn dòng đôi (2)
3Ctrl+5
Giãn dòng 1,5
4Ctrl+0 (zero)
Tạo thêm độ giãn dòng đơn trước đoạn
5Ctrl+L
Căn dòng trái
6Ctrl+R
Căn dòng phải
7Ctrl+E
Căn dòng giữa
8Ctrl+J
Căn dòng chữ dàn đều 2 bên, thẳng lề
9Ctrl+N
Tạo file mới
10Ctrl+O
Mở file đã có
11Ctrl+S
Lưu nội dung file
12Ctrl+O
In ấn file
13F12
Lưu tài liệu với tên khác
14F7
Kiểm tra lỗi chính tả tiếng Anh
15Ctrl+X
Cắt đoạn nội dung đã chọn (bôi đen)
16Ctrl+C
Sao chép đoạn nội dung đã chọn
17Ctrl+V
Dán tài liệu
18Ctrl+Z
Bỏ qua lệnh vừa làm
19Ctrl+Y
Khôi phục lệnh vừa bỏ (ngược lại với Ctrl+Z)
20Ctrl+Shift+S
Tạo Style (heading) -> Dùng mục lục tự động
21Ctrl+Shift+F
Thay đổi phông chữ
22Ctrl+Shift+P
Thay đổi cỡ chữ
23Ctrl+D
Mở hộp thoại định dạng font chữ
24Ctrl+B
Bật/tắt chữ đậm
25Ctrl+I
Bật/tắt chữ nghiêng
26Ctrl+U
Bật/tắt chữ gạch chân đơn
27Ctrl+M
Lùi đoạn văn bản vào 1 tab (mặc định 1,27cm)
28Ctrl+Shift+M
Lùi đoạn văn bản ra lề 1 tab
29Ctrl+T
Lùi những dòng không phải là dòng đầu của đoạn văn bản vào 1 tab
30Ctrl+Shift+T
Lùi những dòng không phải là dòng đầu của đoạn văn bản ra lề 1 tab
31Ctrl+A
Lựa chọn (bôi đen) toàn bộ nội dung file
32Ctrl+F
Tìm kiếm ký tự
33Ctrl+G (hoặc F5)
Nhảy đến trang số
34Ctrl+H
Tìm kiếm và thay thế ký tự
35Ctrl+K
Tạo liên kết (link)
36Ctrl+]
Tăng 1 cỡ chữ
37Ctrl+[
Giảm 1 cỡ chữ
38Ctrl+W
Đóng file
39Ctrl+Q
Lùi đoạn văn bản ra sát lề (khi dùng tab)
40Ctrl+Shift+>
Tăng 2 cỡ chữ
41Ctrl+Shift+<
Giảm 2 cỡ chữ
42Ctrl+F2
Xem hình ảnh nội dung file trước khi in
43Alt+Shift+S
Bật/Tắt phân chia cửa sổ Window
44Ctrl+¿ (enter)
Ngắt trang
45Ctrl+Home
Về đầu file
46Ctrl+End
Về cuối file
47Alt+Tab
Chuyển đổi cửa sổ làm việc
48Start+D
Chuyển ra màn hình Desktop
49Start+E
Mở cửa sổ Internet Explore, My computer
50Ctrl+Alt+O
Cửa sổ MS word ở dạng Outline
51Ctrl+Alt+N
Cửa sổ MS word ở dạng Normal
52Ctrl+Alt+P
Cửa sổ MS word ở dạng Print Layout
53Ctrl+Alt+L
Đánh số và ký tự tự động
54Ctrl+Alt+F
Đánh ghi chú (Footnotes) ở chân trang
55Ctrl+Alt+D
Đánh ghi chú ở ngay dưới dòng con trỏ ở đó
56Ctrl+Alt+M
Đánh chú thích (nền là màu vàng) khi di chuyển chuột đến mới xuất hiện chú thích
57F4
Lặp lại lệnh vừa làm
58Ctrl+Alt+1
Tạo heading 1
59Ctrl+Alt+2
Tạo heading 2
60Ctrl+Alt+3
Tạo heading 3
61Alt+F8
Mở hộp thoại Macro
62Ctrl+Shift++
Bật/Tắt đánh chỉ số trên (x2)
63Ctrl++
Bật/Tắt đánh chỉ số dưới (o2)
64Ctrl+Space (dấu cách)
Trở về định dạng font chữ mặc định
65Esc
Bỏ qua các hộp thoại
66Ctrl+Shift+A
Chuyển đổi chữ thường thành chữ hoa (với chữ tiếng Việt có dấu thì không nên chuyển)
67Alt+F10
Phóng to màn hình (Zoom)
68Alt+F5
Thu nhỏ màn hình
69Alt+Print Screen
Chụp hình hộp thoại hiển thị trên màn hình
70Print Screen
Chụp toàn bộ màn hình đang hiển thị
71Ngoài ra để sử dụng thanh Menu bạn có thể kết hợp phím Alt+ký tự gạch chân cũng sẽ xử lý văn bản cũng rất nhanh chóng, hiệu quả không kém gì tổ hợp phím tắt ở trên
Hy vọng rằng với bảng phím tắt này, bạn sẽ thao tác nhanh hơn đối với văn bản mà không gặp phải khó khăn gì!
Kường™
16-07-2008, 09:59 PM
Một ngày nào đó bạn bật máy tính lên rồi không thấy xuất hiện logo Windows quen thuộc, thay vào đó là màn hình đen ngòm, xuất hiện vài cảnh báo "khó hiểu" hoặc vài tiếng "bip bip..". Hãy bình tĩnh. Một vài sự cố khi khởi động lại được khắc phục bằng những giải pháp đơn giản đến... không ngờ.
1. Ðừng quá lo lắng
Màn hình trống rỗng hoặc trục trặc trong quá trình khởi động không phải lúc nào cũng do hỏng đĩa cứng. Ðĩa cứng hiện nay thường thọ hơn các bộ phận khác của PC, cũng như việc chạy các tiện ích hệ thống không cần thiết hoặc thay và cài đặt lại phần cứng thường.
2. Khởi động lại
Tắt máy tính, chờ 10 giây, và bật máy lại. Ðộng tác này sẽ điều chỉnh lại máy tính - và thông thường thì vậy là đủ để giải quyết trục trặc này.
3. Kiểm tra bên ngoài
Nếu màn hình vẫn trống rỗng, kiểm tra lại tất cả các dây tiếp điện, cáp nối, và các đầu nối để bảo đảm là chúng không bị lỏng. Kiểm tra thiết bị chống đột biến điện, bảo đảm cầu chì của nó chưa bị đứt hoặc chưa bị hư hỏng. Ðồng thời phải kiểm tra lại các núm vặn tương phản và xem độ sáng màn hình có bị vặn xuống mức thấp nhất không.
4. Lắng nghe tiếng động
Khi PC khởi động bạn phải lắng nghe tiếng quạt chạy ở bộ nguồn cấp điện. Bạn cũng phải nghe thấy tiếng quay của đĩa cứng. Nếu tất cả đều im lặng, có thể nguồn cấp điện bị hỏng hay một chỗ nối điện bị lỏng. Hãy mở nắp hộp máy và kiểm tra để bảo đảm tất cả các dây cáp đều được gắn chắc. Nên nhớ là phải luôn đeo vòng chống tĩnh điện hay có các biện pháp khử tĩnh điện thân thể trước khi chạm vào bất kỳ một bộ phận nào bên trong PC. Nếu nghe thấy một loạt tiếng bip trước khi hệ thống bị treo, bạn phải ghi nhớ số tiếng bip và các tiếng đó dài hay ngắn. Thông báo lỗi bằng âm thanh này được tạo ra từ BIOS hệ thống và cho bạn biết những thông tin về một trục trặc đã được phát hiện. Tìm nhà sản xuất máy tính để xác định thông báo lỗi đó có nghĩa cụ thể là gì.
5. Tìm các đầu mối
Khi khởi động PC chạy chương trình Power-On Self Test (Kiểm tra khi mở máy) để xác nhận sự hiện diện của các bộ phận phần cứng chủ yếu như chip nhớ, card video và ổ đĩa. Quan sát kỹ các thông báo lỗi xuất hiện trên màn hình. Bạn cũng có thể đọc thấy câu xác nhận hoặc thông báo lỗi khi hệ thống khởi động các thiết bị cao cấp hơn như ổ CD-ROM. Tuy vậy, không phải lúc nào cũng cần thông báo lỗi. Nếu hệ thống bị treo trong khi đang thiết lập cấu hình cho một thiết bị ngoại vi thì có khả năng đó chính là thủ phạm.
Nếu hệ thống của bạn khởi động Windows thì ít nhất một phần đĩa của bạn vẫn hoạt động. Windows 95 và 98 vẫn dùng các tập tin DOS autoexec.bat và config.sys để nạp các driver đối với một số bộ phận phần cứng cũ. Nếu PC của bạn bị treo trong lúc nạp driver này, hãy nhấn sau khi thấy Starting Windows 9x. Ðộng tác này cho phép bạn chạy các tập tin đó mỗi lần một dòng để thấy rõ trục trặc xảy ra khi đang nạp thiết bị nào.
- Nếu nhìn thấy thông báo lỗi Boot disk failure hoặc Operating system not found thay vì thông báo Starting windows 9x, thì có nghĩa là PC không nạp được Windows từ đĩa cứng. Có thể đĩa cứng đã bị hỏng nặng.
6. Khởi động từ đĩa mềm
Quá trình này sẽ bỏ qua ổ đĩa cứng và dùng để xác nhận máy tính của bạn vẫn bình thường. Dùng đĩa khởi động Windows kèm theo máy của bạn (nếu không có đĩa khởi động này thì tốt nhất là tạo ra một đĩa như vậy). Cách làm như sau: Ðưa đĩa vào ổ đĩa mềm, nhấn Add/Remove Programs trong Control Panel, chọn Startup Disk và nhấn Create Disk. Khởi động lại hệ thống bằng đĩa khởi động trong ổ đĩa mềm. Nếu hệ thống khởi động thành công và hiển thị dấu nhắc A:\> có nghĩa là PC của bạn đang hoạt động tốt. Thử truy cập đĩa cứng bằng cách gõ C: và nhấn . Nếu thấy xuất hiện dấu nhắc C:\>, thì chuyển đổi các thư mục và thử chép một tập tin nhỏ vào đĩa mềm.
Nếu thành công, bạn có thể ghi vào đĩa cứng, và đĩa cứng có thể vẫn còn một sức sống nào đó (đôi khi các đĩa cứng chết từ từ). Tận dùng thời cơ để sao lưu các tập tin quan trọng, sau đó chạy một tiện ích chẩn đoán đĩa cứng như ScanDisk hoặc Norton Disk Doctor.
7. Kiểm tra thông số CMOS
Nếu gặp thông báo lỗi Dirve C: not found (hoặc đại khái như vậy), có thể PC của bạn không nhận ra đĩa cứng vì bị mất các thông số thiết lập CMOS. Ðiều này xảy ra khi pin nuôi CMOS yếu hoặc hỏng. Ðể khắc phục, vào chương trình setup CMOS: Trong khi PC đang khởi động, nhấn phím hoặc hoặc hoặc bất kỳ phím nào do nhà sản xuất PC quy định (xem tài liệu kỹ thuật kèm theo máy). Nếu không có đĩa cứng nào được liệt kê, bạn phải nhập lại thông số cài đặt đĩa cứng này. Bạn có thể khai báo các thông số một cách thủ công (các thông số này thường được in trên vỏ ổ đĩa cứng), nhưng hầu hết các PC sẽ nhập lại chúng dùm bạn bằng tiện ích tự động lập cấu hình ổ cứng của chương trình cài đặt CMOS.
Nếu đã thực hiện tất cả các bước kể trên mà ổ đĩa cứng của bạn vẫn bị trục trặc thì đã đến lúc phải hỏi các chuyên gia.
Kường™
16-07-2008, 10:00 PM
Bạn có nghĩ những hệ thống máy tính hiện nay tạo ra quá nhiều tiếng ồn không? Dù chúng ta đã bỏ không ít tiền để trang bị những bộ loa chất lượng cao nhằm thưởng thức âm nhạc hay hơn, nhưng âm thanh từ loa cộng với tiếng ồn phát ra từ máy tính làm cho gian phòng trở nên ầm ĩ và hỗn loạn.
Nói chung, máy tính làm việc càng êm ái thì chúng ta càng dễ chịu. Làm cho tiếng ồn của máy tính giảm đến mức chấp nhận được là chuyện dễ dàng và không mấy tốn kém. Bạn không nhất thiết phải làm cho máy tính trở nên hoàn toàn "câm lặng" (thực tế là không có bất kỳ biện pháp nào để thực hiện điều đó), mà chỉ cần làm cho hệ thống vận hành trong im lặng ở mức gọi là "tạm đủ". Bài viết sẽ giúp bạn xác định và di dời các bộ phận là thủ phạm chính gây ra những tiếng ồn khó chịu trong máy tính.
Tiếng ồn và nhiệt độ
Bộ phận phát ra nhiều tiếng ồn nhất trong hệ thống là quạt làm mát và hầu hết mọi máy tính đều được trang bị cùng lúc nhiều thiết bị này. Ví dụ, máy tính Pentium 4 được PC World Mỹ thử nghiệm khi thực hiện bài viết này được trang bị đến bốn quạt làm mát: bộ nguồn cấp điện, CPU, card đồ họa và ở mặt sau thùng máy.
Dĩ nhiên, những chiếc quạt này có chức năng làm mát cho các mạch điện mỏng manh bên trong thùng máy và đó là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Tuy nhiên với những thiết bị phù hợp, bạn có thể vừa bảo vệ máy tính để nhiệt độ không quá nóng vừa vận hành êm ái hơn.
http://www.xahoithongtin.com.vn/images/diembao/2005_11/4457.jpg
Trước hết bạn cần mua quạt làm mát mới. Loại quạt làm mát với tốc độ quay chậm tuy phát ra ít tiếng ồn nhưng không thể cung cấp nhiều khí mát cho CPU và các bộ phận trong thùng máy. Những loại quạt có kích thước lớn hơn có thể quay chậm hơn nữa nhưng chúng thổi được nhiều không khí mát vào bên trong hơn. Tuy nhiên vì cánh quạt quá to nên có thể không vừa với thùng máy. Một số loại quạt làm mát đắt tiền (khoảng 20 USD trở lên thay vì chỉ 2 USD như thông thường) có cùng kích thước và tốc độ được thiết kế đặc biệt nhằm giảm thiểu tiếng ồn. Cuối cùng, bạn có thể giảm bớt phụ thuộc vào quạt làm mát bằng cách lắp những phiến tỏa nhiệt hiệu quả cao trên CPU và những nơi khác trong hệ thống.
Để đánh giá nhiệt độ của hệ thống, bạn có thể dùng một chương trình theo dõi nhiệt độ. Thông thường, các máy tính hoặc bo mạch chủ đều đi kèm một chương trình như vậy, hãng sản xuất máy tính cũng có thể cung cấp cho bạn dưới dạng một phần mềm tải về miễn phí từ Internet. Nếu máy tính của bạn không có công cụ này, hãy dùng thử tiện ích Motherboard Monitor miễn phí của Alex Van Kaam (tải về tại www.pcworld.com.vn, ID: 47642; xem hình 1). Chương trình này cho biết nhiệt độ của máy tính và thậm chí đưa ra thông tin cảnh báo khi nhiệt độ trong thùng máy xấp xỉ mức nguy hiểm được bạn thiết lập sẵn. Một phương án khác là dùng tiện ích CPUCool giá 15USD của Podien (tải về bản dùng thử tại find.pcworld.com/48561).
Trước khi mở thùng máy và động đến các bộ phận bên trong, bạn phải nhớ kỹ một số biện pháp an toàn: Rút cáp điện ra khỏi ổ cắm (ở cả hai đầu). Đối với mọi bộ phận không phải là ổ đĩa, bạn để nằm máy tính với bo mạch chủ ở dưới đáy, khi tháo một bộ phận, bạn mở tất cả các vít rồi mới nhấc nó ra. Và khi lắp một bộ phận vào, bạn cắm tất cả các vít, vặn nửa vòng rồi mới vặn chặt. Sau khi xong mọi việc, cắm cáp nguồn và bật điện máy tính, nếu máy hoạt động tốt, bạn hãy tắt điện một lần nữa, tháo cáp điện, đóng thùng máy lại và sau đó mới cắm lại cáp nguồn.
Xác định nguyên nhân gây ồn
Việc thay tất cả các bộ phận gây ồn trong máy tính sẽ lãng phí nhiều thời gian và tiền bạc, cho nên bạn hãy bắt đầu với thiết bị phát ra tiếng ồn lớn nhất. Nếu máy vẫn còn quá ồn, hãy tiếp tục thay bộ phận phát ra tiếng ồn ở mức thứ hai.
Để xác định nguồn gốc tiếng ồn, bạn dùng ống thử Cardboard Tube Test thông dụng. Bằng cách đặt một đầu của ống có gắn loa giấy vào tai, đầu kia đặt gần ổ đĩa, quạt làm mát và các thiết bị khác trong thùng máy, bạn có thể xác dịnh đâu là bộ phận ồn nhất.
Nếu ống thử này không đủ tin cậy, bạn có thể dùng biện pháp Elimination Test: tắt và mở lần lượt các quạt làm mát và ổ đĩa cứng để xem thử thiết bị nào gây ồn nhất (không có gì nguy hiểm khi máy tính với thùng máy được mở hoạt động không có quạt trong vài giây). Để làm "câm" một chiếc quạt làm mát hay một đĩa cứng (bộ phận gây ồn chủ yếu ngoài quạt), bạn hãy tháo điện cung cấp cho thiết bị đó (phải bảo đảm máy tính đã được ngắt điện trước đó). Quạt làm mát thường được nối điện qua một chân cắm nhỏ (ba lỗ) trên bo mạch chủ; ổ cứng thì dùng đầu nối lớn có bốn chân từ bộ nguồn máy tính. Cắm lại cáp điện của máy tính vào ổ cắm, bật máy lên và chú ý lắng nghe mà không dùng đến ống Cardboard.
Đương nhiên, phương pháp này không thể thực hiện được đối với quạt trên bộ nguồn vì bạn không thể ngắt điện cung cấp cho thiết bị này. Nếu máy tính đã tắt điện nhưng vẫn cắm cáp điện vào ổ cắm, bạn hãy cài một que tăm nhỏ vào giữa các cánh quạt và giữ nó ở đó trong khi bật điện máy tính; nếu máy tính trở nên yên tĩnh thì bạn đã tìm ra thủ phạm.
Bộ nguồn cấp điện thường là thiết bị đầu tiên mà bạn muốn thay, vì quạt làm mát bên trong thiết bị này thường gây ồn nhất trong thùng máy. Hãy tìm một bộ nguồn thay thế mới có công suất ít nhất cũng phải bằng công suất của bộ nguồn đang sử dụng. Tuy nhiên, bạn cần nhớ bộ nguồn công suất lớn có khả năng dự phòng cho việc nâng cấp thiết bị trong tương lai thường có giá cao hơn và phát ra nhiều tiếng ồn hơn so với những bộ nguồn công suất nhỏ.
Bạn có thể dùng bộ nguồn S12-330 của Saesonic có công suất 330 watt (find. pcworld.com/48562; xem hình 2) được bán trên mạng với giá khoảng 60 USD. Với cỡ cánh 120 mm, quạt làm mát này quay chậm hơn và phát ra tiếng ồn nhỏ hơn so với loại quạt có cỡ cánh 80mm phổ biến trong hầu hết các bộ nguồn hiện nay. Thậm chí, sản phẩm này còn cho phép làm chậm tốc độ của quạt làm mát CPU và quạt ở mặt sau thùng máy.
Symbian 9.1
17-07-2008, 06:24 PM
Thủ thuật download từ Rapidshare
Rapidshare là dịch vụ của chia sẻ dữ liệu trực tuyến phổ biến nhưng để lưu trữ thoải mái thì cần phải mua tài khoản dịch vụ, còn nếu sử dụng theo hình thức miễn phí thì bạn sẽ gặp phải một số trở ngại. Bài viết sau sẽ giúp bạn giải quyết một số trở ngại.
Rapidshare là một trong những trang lưu trữ và chia sẽ dữ liệu trực tuyến lớn nhất thế giới hiện nay, đã không còn xa lạ đối với người sử dụng Internet. Bạn có thể dễ dàng tìm được bất cứ thứ gì mình muốn tại rapidshare, từ ebook, phần mềm, nhạc, video, hình ảnh… Tuy nhiên, vấn đề đặt ra cho bạn là làm sao tìm được những gì mình cần từ hệ thống dữ liệu khổng lồ của Rapidshare, và những hạn chế bạn gặp phải khi sử dụng dịch vụ miễn phí của Rapidshare. Bài viết sau đây sẽ giúp bạn khắc phục được phần nào những vấn đề này.
I. Tìm kiếm dữ liệu từ Rapidshare
Bạn thường sử dụng những bộ máy tìm kiếm như Google hay Yahoo để tìm kiếm những thông tin dữ liệu cần thiết. Tuy nhiên, trong trường hợp bạn cần download một dữ liệu nào đó, như một cuốn ebook hay một phần mềm, thì tốt nhất bạn nên tìm kiếm từ Rapidshare.
Rapidshare mặc dù là dịch vụ lưu trữ và chia sẽ trực tuyến, nhưng bản thân nó lại không có dịch vụ tìm kiếm những gì mà nó đang lưu trữ. Tuy nhiên, với sự trợ giúp của những công cụ sau, bạn có thể dễ dàng tìm kiếm những gì mình muốn từ Rapidshare để rồi từ đó có thể download một cách nhanh chóng.
1. Rapidfox (http://www.c3k.net/index.php) Sau khi truy cập vào trang web, bạn chỉ cần điền từ khóa cần tìm kiếm vào khung và nhấn Google Search. Trang web sẽ đưa ra những kết quả được tìm kiếm từ Google chính là những link download của Rapidshare. Bạn có thể chọn một trong những kết quả tìm được để download dữ liệu từ Rapidshare một cách dễ dàng.
2. ShareMiner (http://www.shareminer.com/) Cũng tương tự như Rapidfox, bạn điền từ khóa cần tìm kiếm vào khung tìm kiếm và nhấn Search, kết quả sẽ đưa ra những link Rapidshare giúp bạn dễ dàng download.
3. FilesBot (http://www.filesbot.com/) Tương tự như 2 trang trên. Nhiệm vụ của bạn là truy cập vào trang web và điền từ khóa vào khung tìm kiếm. Tuy nhiên, kết quả tìm được của FilesBot sẽ là link trực tiếp để download từ Rapidshare thay vì phải qua kết quả gián tiếp tìm kiếm được bởi Google như 2 công cụ tìm kiếm trên. Kèm theo đó sẽ là ngày mà dữ liệu được up lên Rapidshare, tiện cho bạn nắm được thông tin của dữ liệu mà mình down về, tránh tình trạng down nhầm dữ liệu không cần thiết.
II. Những thủ thuật khi download từ Rapidshare
Một vấn đề thứ 2 cần lưu tâm khi download từ Rapidshare, đó là sự “phân biệt đối xử” giữa dịch vụ miễn phí (free) và dịch vụ có trả phí. Đối với tài khoản có trả phí, bạn sẽ không gặp những phiền tóai khi download, không phải chờ đồng hồ đếm ngược khi download… như sử dụng dịch vụ miễn phí. Tuy nhiên, phần lớn người sử dụng hiện nay đều chọn dịch vụ miễn phí để download từ Rapidshare. Tuy nhiên với những thủ thuật và công cụ hỗ trợ sau, hy vọng bạn có thể cải thiện được những bất tiện khi download từ Rapidshare bằng dịch vụ miễn phí.
1. Gỡ bỏ quá trình đếm ngược thời gian:
Khi bạn download 1 file từ Rapidshare, nếu bạn chọn dịch vụ download free, bạn sẽ phải mất một khoản thời gian để đồng hồ của server đếm ngược đến 0 mới có thể bắt đầu quá trình download. Khoảng thời gian này thường là 30 giây đến 1 phút. Trong trường hợp, bạn không muốn chờ khoản thời gian này, bạn có thể thực hiện theo cách sau :
- Đầu tiên, bạn truy cập vào link Rapidshare mà bạn muốn download. Tại trang đầu tiên chọn hình thức download, bạn click vào nút Free.
- Một đồng hồ đếm ngược sẽ xuất hiện, bắt đầu đếm ngược về 0 trước khi cho phép bạn bắt đầu download file từ Rapidshare.
- Bây giờ, tại thanh địa chỉ của trình duyệt, bạn điền javascript:alert(c=0) và nhấn Enter. Một hộp thoại sẽ hiện ra, bạn click vào OK.
- Bây giờ, bạn có thể download file ngay mà không còn cần phải chờ đợi đồng hồ đếm ngược đến 0 mới có thể download như trước đây.
2. Khắc phục tình trạng hạn chế download
Một vấn đề khác khi sử dụng dịch vụ miễn phí của Rapidshare, đó là bạn sẽ bị hạn chế download trong một ngày. Nghĩa là trong 1 ngày, tại cùng 1 máy thì bạn chỉ có thể download 1 lần duy nhất từ Rapidshare mà thôi. Với hạn chế này, nếu bạn cần down nhiều file liên tiếp từ Rapidshare thì quả thật là rất bất tiện. Để khắc phục tình trạng này, bạn có thể sử dụng thủ thuật sau, để biến máy tính của bạn trở thành… một máy tính hoàn toàn mới để hy vọng có thể qua mắt Rapidshare. Sau khi download 1 file từ Rapidshare và bạn vẫn có nhu cầu để tiếp tục download từ đây, bạn thực hiện theo các bước sau với mục đích “qua mắt” Rapidshare và có thể tiếp tục download.
- Trước hết, Rapidshare hạn chế sự download cuả bạn thông qua Ip bạn đang sử dụng. Do đó, muốn qua mắt Rapidshare thì việc trước tiên bạn cần thực hiện, đó là tạo cho mình một Ip mới. Để có thể làm điều này, bạn tiến hành các bước sau :
+ Bạn click vào nút Start, chọn run, điền cmd vào hộp thoại và nhấn Enter.
+ Tiếp theo, tại cửa sổ Command Promt, bạn điền ipconfig /flushdns và nhấn Enter.
+ Tiếp theo, bạn điền câu lệnh ipconfig /release để ngắt kết nối Internet đang sử dụng. Sau đó điền tiếp câu lệnh ipconfig /renew để kết nối trở lại với đường Internet nhưng đã được cấp phát một địa chỉ IP mới. Sau đó, bạn đóng cửa sổ Command Promt.
- Công việc tiếp theo của bạn là xóa sạch cookies của trình duyệt bạn đang sử dụng để coi như làm mới hoàn toàn máy tính của mình.
+ Nếu bạn đang sử dụng Firefox, thì tại giao diện của chương trình, bạn chọn Tools -> Options. Cửa sổ Options sẽ hiện ra. Bạn chọn đến tab Privacy và click vào nút Show Cookies. Cửa sổ Cookies sẽ tiếp tục được hiện ra, bạn click vào nút Remove all Cookies để xóa sạch Cookies đang được lưu trên trình duyệt và nhấn Close để kết thúc quá trình.
+ Nếu bạn đang sử dụng Internet Explorer thì tại giao diện của chương trình, bạn click vào Tools, chọn Internet Options. Tại thẻ Genaral, ở mục Browsing History, bạn click vào nút Delete. Một cửa sổ mới sẽ được hiện ra cho bạn lựa chọn, bạn click tiếp vào nút Delete Cookies để xóa sạch Cookies đang được lưu trong IE và nhấn Close để kết thúc quá trình.
- Sau khi thực hiện 2 bước trên, bạn hãy thử download một file khác từ Rapidshare. Tuy nhiên, tỉ lệ thành công của cách thức này không phải lúc nào cũng là 100%, bởi vì những Ip từ Việt Nam là Ip động được cấp phát một cách hạn chế, do đó dù đã thay đổi Ip nhưng tình trạng trùng Ip vẫn có thể bị xảy ra và vẫn bị Rapidshare phát hiện và ngăn chặn download.
3. Chương trình hỗ trợ download từ Rapidshare
Nếu bạn đã từng biết đến những chương trình hỗ trợ download như Internet Download Manager, Free Download Manager hay Flashget… thì cũng có một chương trình dùng để hỗ trợ download từ Rapidshare mang tên RapGet.
RapGet là một chương trình miễn phí, sẽ giúp bạn download file từ Rapidshare một cách tự động, thay vì bạn phải truy cập vào đường dẫn của Rapid Share và click vào Free, điền hình ảnh xác nhận rồi mới bắt đầu download như bình thường. Với RapGet, công việc của bạn là dán link Rapidshare của file cần download vào khung của chương trình, RapGet sẽ tự động thêm link đó vào danh sách những file chờ download và lần lượt download từng File.
Bạn có thể download RapGet hoàn toàn miễn phí tại: http://www.rapget.com/en/download.html
Hy vọng với những thủ thuật trên, bạn có thể dễ dàng tìm kiếm những dữ liệu cần thiết từ Rapidshare và có thể download dễ dàng từ đó mà không gặp quá nhiều trở ngại.
Chúc thành công
Symbian 9.1
17-07-2008, 06:26 PM
Những thủ thuật cho Y!M (Yahoo! Messenger)
Mạng chat chập chờn lúc được lúc mất, có nhiều nick nhưng lại không thể đăng nhập cùng lúc, hay muốn biến hình Avatar của bạn thành của mình. Nếu bạn dùng Yahoo! Messenger 8.1 thì tất cả đều có thể thực hiện được qua hướng dẫn dưới đây.
Khắc phục lỗi không thể đăng nhập
Đôi khi tín hiệu kết nối Internet của máy tính vẫn ổn nhưng bạn gặp rắc rối đăng nhập vào YM. Khi gặp rắc rối như vậy, bạn có thể thử làm theo các bước sau để khắc phục:
- Từ cửa sổ YM, bạn vào trình đơn Messenger chọn Prefrences.
- Cửa sổ Yahoo! Messenger Prefrences mở ra bạn chọn mục Connection ở khung bên trái. Tại khung bên phải có 4 tùy chọn. Thông thường, mặc định sẽ nằm ở tùy chọn No Proxies. Nhưng trong trường hợp không thể đăng nhập thì bạn có thể thay bằng tùy chọn Firewall with no proxies. Nhấn OK và thử đăng nhập lại để kiểm tra kết quả. Nếu vẫn không thể đăng nhập thành công, bạn hãy chuyển qua tùy chọn No network detection và thử đăng nhập lại lần nữa. Nếu kết quả vẫn không thành công, thì có lẽ máy của Yahoo đang gặp vấn đề. Bạn nên chờ ít phút sau hãy thử đăng nhập lại.
Ngăn chặn virus phát tán qua tin nhắn
Chắc hẳn bạn đã biết đến những tin nhắn có chứa virus trong các đường link với những lời mời gọi bấm vào. Các tin đó được gửi đến từ những tài khoản sử dụng trên máy bị nhiễm virus có khả năng dò tìm nickname trên danh sách của chủ nhân ID. Nếu máy tính của bạn cũng bị lây nhiễm nhưng chưa kịp sử dụng chương trình diệt virus để dọn dẹp, thì bạn có thể ngăn chặn cơ chế phát tán tin nhắn trong danh sách của mình bằng cách :
- Tại cửa sổ YM, bạn chọn Messenger và chọn tiếp mục Prefences.
- Cửa sổ Yahoo! Messenger Prefrences hiện ra. Ở khung bên trái, bạn chọn đến mục Messages. Tại đây, khung bên phải, mục Pressing Enter in a Message widows, bạn chọn tùy chọn Inserts a new line in the message và nhấn OK.
Hoàn thành thao tác này, mỗi khi virus tự động phát tán tin nhắn, nếu bạn không nhấn vào nút Send thì virus sẽ không thể tự mình phát tán các tin nhắn có chứa link virus được. Do đó, bạn sẽ ngăn không cho virus tiếp tục phát tán. Tuy nhiên, trong trường hợp máy tính của bạn không bị nhiễm virus hoặc đã dọn sạch virus thì nên chỉnh lại mặc định ở chọn tùy chọn Sends a Message nếu không trong lúc chat, bạn sẽ phải nhấn nút Send để gửi tin đi thay vì nhấn nút Enter như bình thường.
Tự động lưu lại nội dung tin nhắn
Để lưu lại nội dung các cuộc chat bạn chọn cách sau:
- Từ cửa sổ YM, bạn chọn Messenger và chọn tiếp mục Prefences.
(phím tắt Ctrl- Shift-P)
- Cửa sổ Yahoo! Messenger Prefrences hiện ra. Tại khung bên trái, bạn chọn đến mục Archive. Tại đây, ở khung bên phải bạn đánh dấu chọn mục Yes, save all of my message và nhấn OK.
Kết thúc bước thiết lập khá đơn giản này, bạn hoàn toàn có thể đọc lại được những đoạn hội thoại với người nào, bạn chỉ việc tìm đến nickname của người ấy nếu muốn.
Dùng chung Avatar của bạn chat
Là hình ảnh nhỏ đi kèm mỗi tài khoản YM sử dụng để đại diện cho mình. Cho nên bạn có thể nhìn thấy Avatar trên danh sách bạn bè YM của mình.
Trong trường hợp bạn muốn lấy 1 hình ảnh tương tự bạn mình để làm avatar, thì ngoài cách xin hình ảnh đó, bạn có thể truy cập vào http://img.msg.yahoo.com/avatar.php?yids=NickName trong đó phần NickName là tên ID bạn muốn lấy Avatar.
Chẳng hạn, bạn muốn lấy avatar của nick 12345 thì bạn sẽ sử lại link trên thành http://img.msg.yahoo.com/avatar.php?yids=12345, lập tức hình ảnh Avatar của nick 12345 đang sử dụng sẽ được hiện ra. Việc tiếp theo của bạn chỉ là save hình ảnh đó lại và sử dụng làm avatar cho chính mình.
Chúc vui và thành công.
Symbian 9.1
17-07-2008, 06:42 PM
Làm nick yahoo là các Số (vd : 0908123456)
Đầu tiên cần cài Java .
* Download java tại: http://theplanet.tucows.com/files2/jre-1_5_0_05-windows-i586-p.exe
* Ukie cài xong roài vô: http://mobile.yahoo.com/go/emulator
Sau khi đã cài đặt Java xong, bên phía trái trang web có hình chiếc điện thoại Nokia máy gập rất đẹp. Để làm gì thế! Đó chính là ....Nơi Đăng Ký Nick số của bạn đấy!
* Bạn chú ý vào các phím giao diện Mobile : phím lên xuống, phím chọn (phím hình ô van giữa),Ok (bên trái), phím thoát (bên phải). (Dùng nó như dùng DT bình thường, nhớ là dùng chụt bấm vào các fím chứ đừng thò chụt bấm vô màn hình Điện Thoại nhen)
Mọi thao tác sẽ thực hiện trên chiếc điện thoại ảo
+ Bước 1: Do you....? ( ý hỏi bạn có nick chưa) >> chọn No, i don't [Dòng thứ 2 đó]
+ Bước 2: Chọn SKip ( phím bên trái) >> chọn OK (Phím ở giữa)
+ Bước 3: Chọn Sign In ( nhấn phím mũi tên sang trái trên điện thoại ảo)
+ Bước 4: Chọn yes >>> dùng phím lên xuống >>> đến phần Y! ID>>nhập nick số bạn thích vào >> chọn Submit ( ví dụ số : 0908123456)
+ Bước 5: Nhập mật khẩu >> phím xuống >> nhắc lại mật khẩu >> chọn submit.
+ Bước 6: Chọn câu hỏi bí mật >> phím xuống >> câu trả lời >> Submit
+ Bước 7: Ngày sinh: >>> Submit
+ Bước 8: Nhập mã xác nhận >> submit >> Chọn tiếp Yes >> Ok
+ Bạn đã đăng ký thành công nick số : 0908123456
Chúc vui và thành công.
Symbian 9.1
17-07-2008, 06:49 PM
Những điểm mới ở Yahoo Messenger 9.
Yahoo Messenger 9 (YM9) beta 2 - phiên bản kế tiếp ứng dụng tin nhắn tức thời Yahoo Messenger vừa hé lộ trên Internet. Xin giới thiệu những điểm mới, ưu điểm và nhược điểm trong phần mềm này.
http://www.itgatevn.com.vn/pictures/web/news/2008_005/11/itGatevn_2008060520_YahooMessenger9.0.jpg
Giao diện mới của Yahoo Messenger 9
Yahoo đã âm thầm ra mắt phiên bản này, hãng không gọi YM 9.0.0.1389 là bản YM9 Beta 2. Đây chỉ là cách gọi mà, chúng tôi xin phép được đặt cho phiên bản này bởi đến nay nó là phiên bản thử nghiệm thứ hai YM9 được phát hành.
Để tải phiên bản YM 9.0.0.1389, người dùng cần phải truy cập vào trang chủ http://messenger.yahoo.com/win/. Ở lần ra mắt này, Yahoo không giới thiệu nhiều tính năng mới mà để người dùng tự khám phá những đặc điểm mới của nó.
Giao diện
Thay đổi đầu tiên dễ nhận thấy nhất trong phiên bản thử nghiệm YM9 mới chính là màu sắc. Màu sắc giao diện ứng dụng (skin) không chỉ còn được ứng dụng cho mỗi thanh tựa đề cửa sổ YM9 (Title bar) mà còn cho toàn bộ cửa sổ ứng dụng một cách rõ rệt hơn. Hai phím (button) “Add a Contact” và “Plug-ins” trong phiên bản cũ đã được thay thế bằng nét lượn cong trông “điệu đà” hơn.
Màu sắc của khung tìm kiếm trong phiên bản đã được tô đậm hơn phù hợp với màu sắc của thanh tựa đề hơn. Ngoài chức năng tìm kiếm Yahoo ID như trước, phiên bản này thanh tìm kiếm còn được bổ sung thêm phím bấm thiết lập hiển thị nội dung trong YM. Cụ thể, đó là những tính năng hiển thị danh sách Yahoo ID dạng thu gọn (Compact List) hoặc đầy đủ (Detailed List), cho phép hiện thị sổ liên lạc (Show Address Book Contacts) và hiển thị Yahoo ID ở trạng thái offline (Show offline contacts). Ở phiên bản trước đây, người dùng truy cập vào “Preferences” mới có thể thay đổi được những thiết lập này. Rõ ràng sự bổ sung này đã mang lại cho người dùng sự tiện lợi tối đa.
Tiếp theo là về cách hiển thị hình đại diện (avatar) và thiết lập thông điệp trạng thái (status). Hình đại diện được chuyển từ vị trí bên tay phải sang tay trái. Di chuột lên avatar sẽ hiển thị rõ lớp khung mang màu sắc như thanh tựa đề ứng dụng cùng với mũi tên biểu thị menu ngữ cảnh, cho phép truy cập nhanh những tính năng như sửa đổi hình đại diện (Display image), thay đổi thông tin cá nhân (Contact Details) và thông tin tài khoản.
Về tính năng thiết lập Status, để có thể truy cập những thiết lập Status như trước đây - Available, Busy hoặc Invisible to Everyone - người dùng phải nhắp chuột trực tiếp vào Yahoo ID của mình ngay bên cạnh hình đại diện. Một số lựa chọn Status như “Stepped out, Be right back, Not at My Desk và On the phone” đã bị loại bỏ trong phiên bản mới. Việc loại bỏ những tính năng này là phù hợp với thiết lập trong phiên bản mới. Trạng thái của người dùng đều được biểu thị bằng dấu chấm - màu vàng cho “Available”, màu đỏ cho “Busy” và màu xám cho “Invisible to Everyone” - chứ không bằng dấu chấm màu và ký tự như trước đây.
Để hiển thị Status tùy biến cá nhân, trong phiên bản YM9 mới, người dùng có thể nhập ngay trực tiếp vào ô hiển thị ngay bên dưới Yahoo ID của mình. Nếu có nhiều Status cá nhân thiết lập trước đây, người dùng có thể dùng phím mũi tên ở cuối ô hiển thị để chọn lựa thay vì phải nhập vào ô cửa sổ bung ra.
Khi nhắp chuột vào ô hiển thị Status cá nhân, ứng dụng sẽ hiển thị luôn một ô cho phép người dùng nhập liên kết web để bổ sung thêm vào Status, không còn phải “vất vả” nhập vào hộp thoại Status cá nhân như trước đây nữa.
Nếu hình đại diện trong phiên bản trước đây được hiển thị bên tay phải, nay trong phiên bản đã được chuyển sang bên trái. Kiểu thiết kế này giống với thiết kế của phiên bản thử nghiệm Yahoo Messenger dành cho Windows Vista.
Giao diện cửa sổ “chat” thay đổi duy nhất là các biểu tượng mặt cười được hiển thị theo phong cách mới. Tuy nhiên, kiểu hiển thị này không được đánh giá cao bởi nó … “xấu” hơn kiểu hiển thị ở phiên bản cũ rất nhiều.
Tính năng
Về mặt tính năng, đáng chú ý nhất là việc Yahoo “tái” tích hợp trở lại tính năng chơi game trực tuyến với bạn bè. Người dùng có thể mời bạn bè chơi game trực tiếp từ cửa sổ chat bằng cách nhắp chuột vào Activities và chọn một game ưa thích, rồi nhắp nút bấm Start để cùng bạn bè mình chơi game.
Sự thay đổi thứ hai về mặt tính năng là Yahoo đã cho phép người dùng quản lý và chia sẻ thông tin cập nhật về chính bản thân mình (Manage My Updates). Để sử dụng tính năng này, có thể nhắp chuột vào hình đại diện của mình và chọn “Manage My Upates” hoặc từ menu “Messenger | Manage Updates I Broadcast…”
“My Updates” được Yahoo định nghĩa là “những câu chuyện nhỏ về hoạt động trực tuyến” của người dùng như hình ảnh mới tải lên mạng, bài viết blog … Nếu người dùng không chọn chia sẻ thì những thông tin này sẽ không được hiển thị. Còn nếu chọn lựa cho phép chia sẻ, những thông tin này sẽ được bổ sung trực tiếp vào menu ngữ cảnh cung cấp thông tin về bạn khi người khác nhắp chuột vào Yahoo ID của bạn trên danh sách bạn bè. Thay vì phải cài đặt thêm plug-ins Yahoo 360 Blog, giờ đây người dùng có thể đọc blog của bạn bè trực tiếp từ menu ngữ cảnh này.
Tuy nhiên, sau quá trình thử nghiệm, chúng tôi khuyến cáo người dùng YM9 phiên bản mới không nên chấp nhận chia sẻ Yahoo 360 Blog bởi phiên bản thử nghiệm này có thể “móc” ra cả những “entry” đã được người dùng giấu kín trong trang blog được thiết lập ở chế độ “Private”.
Một tính năng mới khác trong YM9 phiên bản mới giúp khẳng định rõ hơn nữa mối liên hệ chặt chẽ giữa phiên bản thử nghiệm mới Yahoo Messenger và Yahoo 360. Cụ thể YM9 phiên bản mới còn cho phép hiển thị cả câu Blast từ trang blog cá nhân nếu như người chủ blog đó mới thay câu nói này.
Yahoo lần này cũng thực hiện một chút thay đổi trong tính năng chia sẻ ảnh (Share Photo) trực tiếp từ cửa sổ chat với bạn bè, cho phép người dùng chia sẻ trực tiếp những hình ảnh đã được tải lên website chia sẻ ảnh số trực tuyến Flickr của Yahoo.
Các tính năng khác như hỗ trợ tốt hơn tiếng Việt, xem video trực tuyến trực tiếp từ cửa sổ chat khi người dùng dán vào một liên kết đến video clip từ dịch vụ chia sẻ video như YouTube, Yahoo Video hay xem bản đồ trực tuyến trực tiếp từ cửa sổ chat … đều đã được hoàn thiện hơn trong phiên bản mới.
Để biết thông tin chi tiết hơn những tính năng mới trong YM9 Beta 2, các bạn có thể xem thêm video giới thiệu do Yahoo cung cấp tại đây :
http://messenger.yahoo.com/platform/videoviewer/win/
Kường™
18-07-2008, 03:03 PM
Để tắt chức năng autorun của đĩa usb (tương đương với việc không cho phép thực thi tự động khi nháy đúp vào đĩa usb), bạn chỉ cần xoá file autorun.inf trong ổ đĩa usb,bạn thực hiện thông qua các bước sau, lưu ??ý là bạn phải thực hiện đúng lần lượt tất cả các bước.
Bước 1: Mở hộp thoại My Computer.
Bước 2: gắn đĩa usb vào máy, xem tên ổ đĩa tương ứng với đĩa usb của bạn (ổ đĩa mới gắn vào), trong hình minh hoạ tên ổ đĩa là H:.
Bước 3: vào start chọn run, hoặc nhấn phím win*** + R. Gõ vào cmd rồi nhấn Enter.
Bước 4: tại dấu nhắc lệnh của DOS, các bạn gõ lệnh sau:
attrib <TêN đĩa: ổ>\autorun.inf -a -s -h -r
Trong ví dụ trên, câu lệnh sẽ là: attrib H:\autorun.inf -a -s -h -r
Lệnh này bỏ thuộc tính các thuộc tính ẩn và system của file autorun.inf của ổ đĩa usb để có thể xoá nó bằng lệnh del ở bước 5.
Bước 5: xoá file autorun.inf trong đĩa usb bằng lệnh: del <TêN đĩa: ổ>\autorun.inf
Trong ví dụ trên, câu lệnh sẽ là: del H:\autorun.inf
Bước 6: gõ lệnh exit để thoát khỏi dấu nhắc lệnh của DOS.
Bước 7 (rất quan trọng): lấy đĩa usb ra khỏi máy, sau đó gắn lại, điều này sẽ làm cho hệ thống không thực hiện chức năng autorun của đĩa usb nữa.
Nếu bạn chỉ xoá file autorun rồi nháy đúp vào ổ đĩa, thì hệ thống vẫn thực hiện chức năng autorun vì đã nạp file autorun.inf của đĩa usb vào bộ nhớ.
Bước 8: Bây giờ bạn có thể nháy đúp chuột vào đĩa usb của bạn. Bạn cho hiển thị tất cả các file ẩn cũng như file hệ thống, hiển thị phần mở rộng của các file,bằng cách chọn menu Tool, mở cửa sổ Folder Option, chọn Show hidden files and folders, bỏ chọn hide extension for known file types và bỏ chọn hide protected operating system files.
Sau đó đó bạn tìm tất cả những file có phần mở rộng là exe hay dll mà không phải là của bạn copy vào usb (tức là rất có thể các file này có chứa virus), xoá nó bằng cách nháy chuột phải vào file đó, chọn delete và chọn yes để xác nhận. Lưu ý ở bước này là một số file virus có phần mở rộng là exe nhưng có icon giống với 1 folder, để dụ bạn nháy đúp vào chúng, kích hoạt chúng. Bạn phải chú ý để không phạm sai lầm chết người này.
Bước 9: sau khi đã xoá bằng tay các file virus, bạn cần quét lại đĩa usb của bạn bằng các trình quét virus thông dụng trước khi copy dữ liệu từ đĩa usb vào máy.
Các bước sẽ diễn ra suôn sẻ nếu máy tính của bạn chưa bị nhiễm virus.
Chúc các bạn thành công.
Kường™
19-07-2008, 08:52 AM
1. Nghe nhạc khi ở chế độ nghỉ
Theo mặc định của WinXP, khi gấp màn hình máy tính xách tay lại, máy sẽ chạy ở chế độ standby hay Hibernation. Điều này gây ra không ít phiền phức khi bạn muốn nghe nhạc thư giãn (có thể bằng headphone) và gấp màn hình lại để không làm phiền người khác hoặc muốn đi ra ngoài trong giây lát mà không muốn chương trình nhạc tự tắt khi đóng nắp máy lại.
Để giải quyết vấn đề này, bạn có thể vào Start=>Control Panel=>Power Option hoặc click chuột phải ở Desktop=>Screensaver=>Power. Sau đó vào thư mục Advance, trong ô When I close the lid of my portable computer chọn Do nothing. Cuối cùng nhấn OK để máy lưu lại cấu hình đã chọn.
2. Tăng tốc độ xử lý khi RAM trên 1 GB
Nếu máy tính xách tay của bạn có cấu hình mạnh với RAM trên 1 GB, bạn có thể tăng tốc độ xử lý cho laptop nhờ vào việc không sử dụng các tập tin trao đổi và không thiết lập bộ nhớ ảo. Để làm được điều này, bạn vào Start=>Control Panel=>System hoặc kích chuột phải vào My Computer=>Properties, sau đó chọn Advance, trong thu mục Performance click chuột vào Settings.
Chọn mục Advance trong hộp thoại Virtual Memory và click vào change, cuối cùng check vào ô No Paging File cho tất cả các ổ đĩa và nhấn vào Set rồi chọn OK để lưu lại cài đặt này.
3. Khởi động máy nhanh
Hiện nay đối với hầu hết các loại máy tính xách tay, các nhà sản xuất đều khuyến cáo là nên sử dụng hệ điều hành WinXP. Tuy nhiên, do WinXP có dung lượng lớn nên quá trình khởi động xảy ra rất lâu, điều này gây không ít phiền phức và bực bội cho người dùng. Tuy vậy, nếu muốn bạn cũng có thể có cách giúp giúp tăng tốc khởi động cho laptop một cách nhanh chóng bằng cách cài đặt tất cả các file khởi động chung một nơi để quá trình truy xuất diễn ra nhanh hơn. Để thực hiện được, bạn click vào Start=>Run, nhập vào đó từ Regedit.
Sau đó sẽ xuất hiện cửa sổ Regedit Editor, vào H***_Local_Machine=> Software=>Microsoft=>Dfrg=>BootOptimizerFunction. Click chuột phải vào Enable nằm ở cửa sổ bên phải, chọn Modify và thay đổi giá trị N thành Y. Sau khi thay đổi, bạn phải khởi động lại máy mới có tác dụng.
*Nếu máy tính xách tay không có tuỳ chọn Hibernation:
Chương trình chỉ sử dụng được khi máy tính xách tay chạy ở chế độ Hibernation. Bằng cách tắt máy thì click vào Start=>Turn off computer=>Hibernation. Nếu máy bạn không có tuỳ chọn này hãy nhấn phím Shift, sẽ có sự chuyển đổi từ tuỳ chọn Standby sang Hibernation.
4. Tự khởi động máy để tải chương trình
Nếu bạn muốn laptop tự khởi động theo thời gian đã hẹn trước để giúp bạn quét virus hoặc tải một chương trình, một cuối sách có dung lượng lớn trong thời gian bạn không dùng đến máy? Thật đơn giản, chỉ cần vào Start=>Programs=>Scheduled Tasks, click chuột phải vào Add Schedules Tasks=> Open.
Tiếp theo chọn chương trình mà bạn muốn chỵa khi khởi động máy tính xách tay lên, chọn mức độ thường xuyên thực hiện việc này hàng ngày (Daily) hàng tuần (Weekly) hàng tháng (Monthly), hoặc chỉ một lần (One time only). Sau đó nhập user name, mật khẩu đăng nhập và đánh dấu kiểm vào ô Open Advanced Properties for This Task When I click Finish và nhấn Finish. Khi cửa sổ mới xuất hện chọn mục Settings, check vào ô Wake the computer to run this task. Để chỉnh lại ngày giờ khởi động laptop, bạn vào lại mục Schedule rồi nhập ngày giờ theo ý mình và click OK để lưu lại.
Kường™
19-07-2008, 08:54 AM
Một máy tính cá nhân sẽ gồm các thành phần cơ bản sau:
- PC Tower ta thường được gọi là CPU hay “Cây”.
- Màn hình (monitor)
- Bàn phím (***board)
- Chuột (Mouse)
- Loa (Speaker)
…
Trong các thành phần trên thì CPU Tower là quan trọng hơn cả; nó quyết định đến tốc độ, hiệu năng, khả năng xử lý của máy vi tính. Tại sao PC Tower lại có sức mạnh to lớn đến thế? Chúng ta sẽ cùng nhau xem xét cấu tạo bên trong của nó để từ đó đưa ra câu trả lời thích hợp. Một CPU Tower sẽ có các thành phần cơ bản sau:
• CPU (Central Processing Unit - Bộ xử lý trung tâm): Đây có thể coi là thiết bị quan trọng bậc nhất trong CPU Tower, nó đóng vai trò là bộ não của máy vi tính. Chuyên nhận dữ liệu để tính toán, xử lý, rồi gửi kết quả ra các thiết bị tương ứng như màn hình, ổ cứng, máy in … Tốc độ xử lý của CPU là nhân tố quyết định tốc độ làm việc của PC. Một số loại CPU mà chúng ta thường gặp như Pentium I, II, III, 4; celeron … Trên thế giới Intel và AMD là hai công ty lớn nhất chuyên sản xuất CPU, hầu hết các máy tính PC đều sử dụng CPU của hai hãng này. Dưới đây là hình ảnh một bộ xử lý trung tâm do hãng Intel sản xuất – Pentium 4
• Memory - bộ nhớ: Khi nói về bộ nhớ của máy vi tính chúng ta phải hiểu đó là bộ nhớ trong gồm RAM (Read Access Memory - bộ nhớ truy nhập ngẫu nhiên), ROM (Read Only Memory – Bộ nhớ chỉ cho phép đọc), BIOS (Basic Input/Output system - hệ thống vào ra cơ bản), Caching - bộ nhớ đệm tốc độ cực cao nối trực tiếp với CPU. Bộ nhớ trong thường có dung lượng lưu trữ thấp, nhưng tốc độ xử lý rất nhanh. Trong quá trình hoạt động CPU sẽ sử dụng bộ nhớ trong để nạp các thông tin cần xử lý vào đó. Chúng ta có thể hình dung bộ nhớ trong như một chiếc bảng, để giải quyết một bài toán chúng ta sẽ ghi chép đề bài, phân tích, đưa ra lời giải trên chiếc bảng đó. Nếu bảng càng rộng sẽ giải quyết càng nhiều bài toán cùng một lúc, với thời gian càng nhanh. Vì bảng lớn sẽ tiết kiệm được thời gian lau bảng. Với máy vi tính bộ nhớ trong càng lớn thì tốc độ xử lý sẽ càng cao.
• Bộ nhớ ngoài: Cần phân biệt bộ nhớ trong với bộ nhớ ngoài, bộ nhớ ngoài thường có dung lượng lưu trữ rất lớn, tuy nhiên tốc độ xử lý lại chậm; đĩa cứng, CD Room, USB, đĩa mềm (floppy drive) chính là những thiết bị lưu trữ ngoài. Trong một số trường hợp máy vi tính sẽ sử dụng một phần bộ nhớ ngoài để lưu trữ các thông tin đang được xử lý, khi đó phần bộ nhớ này sẽ trở thành bộ nhớ trong và được gọi là bộ nhớ ảo – virtual memory.
• Motherboard – bo mạch chủ: Khi bạn mở tung một chiếc CPU Tower bạn sẽ quan sát thấy một bảng mạch điện tử rất lớn, trên đó cắm rất nhiều thiết bị khác nhau. Bảng mạch điện tử đó người ta gọi là main hay bo mạch chủ. Dưới đây là hình ảnh một Motherboard khá phổ biến trên thị trường:
Trên motherboard này ta quan sát thấy có khe cắm Socket cho bộ xử lý (CPU), có khe cắm cho Memory (RAM), có BIOS và nhiều khe cắm khác mà chúng ta sẽ nghiên cứu ở phần tiếp theo (ví dụ: IDE – cho ổ cứng, AGP – cho card màn hình, các bus tốc độ cao PCI …)
• Slot – khe cắm: bản chất nó như một ổ điện nhiều chân được dùng làm chỗ cắm cho các thiết bị. Các slot này đều nằm trên bo mạch chủ, được phân thành các khối khác nhau:
+ IDE - Integrated Drive Electronics: Slot này dùng để cắm ổ cứng, ổ đĩa mềm hoặc CD Rom.
+ AGP - Accelerated Graphics Port: slot này dùng để kết nối card màn hình với máy vi tính, có tốc độ rất lớn do việc xử lý hình ảnh đòi hỏi tốc độ cao.
+ SCSI - Small computer system interface: Slot này dùng để cắm thêm các thiết bị khác vào máy vi tính, chẳng hạn như máy scanner.
• Sound card – card âm thanh: Đây là thiết bị dùng để ghi và phát ra âm thanh, về bản chất nó thực hiện việc chuyển đổi tín hiệu âm thanh từ tương tự sang tín hiệu số và ngược lại. Nếu không có soundcard máy vi tính chỉ phát ra những âm thanh dạng bíp bíp mà thôi. Một sound card sẽ có dạng như sau:
• Graphic card – card đồ hoạ: Đây là thiết bị giúp hiển thị hình ảnh, màu sắc trên màn hình. Về bản chất nó chuyển đổi dữ liệu hình ảnh thành những khuôn dạng sao cho có thể hiển thị được. Một card màn hình sẽ có bộ nhớ để lưu trữ, có thể là bộ nhớ riêng hoặc có thể sử dụng một phần bộ nhớ của RAM. Card đồ hoạ có tốc độ xử lý là rất lớn nên nó cần có bộ phận làm mát gồm quạt, heatsink. Dưới đây là hình ảnh một card màn hình thông dụng:
Ngày nay trên motherboard người ta thường tích hợp (on – chip) các card âm thanh và card đồ hoạ. Khi cài đặt hệ điều hành ta cần chú ý cài đặt driver cho hai loại card này, khi đó chúng ta mới có thể hiển thị hình ảnh đa màu sắc cũng như có thể nghe được những file ca nhạc yêu thích.
Ở phía sau CPU Tower ta quan sát thấy có khá nhiều cổng nối khác nhau, có thể là cổng PS/2 dùng để nối chuột và bàn phím. Cổng USB, cổng nối tiếp ******, cổng song song Parallel, cổng mạng network, cổng VGA để nối với màn hình, cổng để cắm loa, mic, cổng nối modem dial up, một quạt khá lớn để làm mát cho CPU, một nguồn Power Supply để cung cấp điện…
Như vậy ta đã xét một cách khái quát các thành phần cơ bản bên trong CPU Tower. Nó gồm một bo mạch chủ để liên kết các thiết bị, một khối xử lý trung tâm (CPU) để xử lý dữ liệu, bộ nhớ trong (RAM, ROM, BIOS, Caching) để lưu trữ các thông tin đang được xử lý, graphic card, sound card để xử lý hình ảnh và âm thanh, bộ nhớ ngoài (ổ cứng, đĩa mềm, CD ROM) để chứa dữ liệu dung lượng lớn, các khe cắm (AGP, IDE, SCSI) để ghép nối các thiết bị như máy in, máy scanner, camera, máy ảnh… Nhìn chung CPU Tower là một khối thiết bị đa dạng và phức tạp, đóng vai trò quyết định hiệu năng, tốc độ của máy vi tính. CPU Tower sẽ nhận dữ liệu từ khối thiết bị vào (bàn phím, chuột …) sau đó sẽ xử lý dữ liệu và gửi kết quả ra khối thiết bị ra (màn hình, máy in, loa, … ) hoặc lưu trữ trong bộ nhớ ngoài (ổ cứng, CDROM, đĩa mềm …)
Kường™
19-07-2008, 10:07 AM
Lỗi phần mềm, lỗi của người sử dụng, virus ... làm hỏng dữ liệu trên ổ đĩa cứng của bạn. Bạn đừng lo đã có ứng dụng khôi phục dữ liệu miễn phí TestDisk giúp bạn giải quyết những khó khăn này.
TestDisk thực sự là một ứng dụng khôi phục dữ liệu mạnh mẽ. Phần mềm này được thiết kế nhằm mục đích trợ giúp người sử dụng khôi phục dữ liệu từ những phân vùng đĩa cứng đã bị mất hay biến những chiếc đĩa không thể khởi động có thể thực hiện tốt công việc khởi động trở lại nếu chúng bị lỗi phần mề, virus hay lõi người sử dụng gây ra ví dụ như bạn không may đã lỡ tay xoá mất bảng phân vùng ổ cứng (Partion Table).
TestDisk có những tính năng dành cho cả những người không hiểu biết sâu lẫn các chuyên gia.
TestDisk có thể vận hành trên một loạt các hệ điều hành từ DOS cho đến các ứng dụng mã nguồn mở: DOS, Windows 32-bit (NT4, 2000, XP, 2003), Linux, FreeBSD, NetBSD, OpenBSD, SunOS và Mac OS. Điều này mang lại khả năng tương thích với rất nhiều các hệ thống tệp tin của nhiều hệ điều hành khác nhau gồm có:
- BeFS ( BeOS )
- BSD disklabel ( FreeBSD/OpenBSD/NetBSD )
- CramFS, Compressed File System
- DOS/Windows FAT12, FAT16 and FAT32
- HFS and HFS+, Hierarchical File System
- JFS, IBM's Journaled File System
- Linux Ext2 and Ext3
- Linux Raid
- RAID 1: mirroring
- RAID 4: striped array with parity device
- RAID 5: striped array with distributed parity information
- RAID 6: striped array with distributed dual redundancy information
- Linux Swap (versions 1 and 2)
- LVM and LVM2, Linux Logical Volume Manager
- Mac partition map
- Netware NSS
- NTFS ( Windows NT/2K/XP/2003 )
- ReiserFS 3.5 and 3.6
- Sun Solaris i386 disklabel
- UFS and UFS2 (Sun/BSD/...)
- XFS, SGI's Journaled File System
Thông thường TestDisk sẽ yêu cầu BIOS và hệ điều hành kiểm tra các đĩa cứng để đối chiếu các Partition Table, nếu sinh lỗi thì ứng dụng có thể khắc phục.
Bạn có thể tham khảo thêm hướng dẫn chi tiết về cách sử dụng phần mềm tại địa chỉ http://www.cgsecurity.org/wiki/TestDisk (http://www.cgsecurity.org/wiki/TestDisk) và tải về phần mềm này tại đây (http://www.cgsecurity.org/wiki/TestDisk_Download).
Kường™
19-07-2008, 10:08 AM
PC của bạn đang chạy ngon lành với hệ điều hành Windows XP, nhưng bất chợt có một ngày đãng trí bạn quên mất mật khẩu tài khoản của mình, bạn phải làm gì đây? Cài lại toàn bộ hệ thống sao? Đồng nghĩa với việc bạn sẽ phải cài đặt lại toàn bộ phần cứng phần mềm, sẽ rất vất vả. Chúng tôi hy vọng giải pháp sau đây sẽ giúp bạn đơn giản quá trình này.
Chuẩn bị
Bạn phải chắc là bạn chỉ quên mật khẩu tài khoản đăng nhập của mình và hệ thống của bạn vẫn khởi động bình thường. Bên cạnh đó bạn phải có sẵn trong tay đĩa CD cài đặt Windows XP có thể khởi động được và CD *** cài đặt Windows XP.
Thực hiện khôi phục mật khẩu
- Đưa đĩa CD cài đặt Windows XP vào ổ CD-ROM và khởi động hệ thống của bạn.
- Khi hệ thống yêu cầu bạn bấm một phím bất kỳ để khởi động từ đĩa CD, bạn ấn Enter.
- Bạn phải chờ đến khi hệ điều hành tải xong phần chuẩn bị cài đặt, sau đó bạn ấn ENTER để vào tiến trình cài đặt Windows.
- Ấn F8 khi xuất hiện bản Licensing Agreement.
- Tại màn hình kế tiếp bạn lựa chọn “Sửa chữa” (Repair) lại hệ điều hành. Sử dụng phím mũi tên lên xuống để lựa chọn đúng hệ điều hành trên đĩa cứng mà bạn cần sửa - ở đây là hệ điều hành mà bạn đã quên mật khẩu.
- Quá trình Repair bắt đầu khởi động chạy. Trình cài đặt Windows sẽ tiến hành kiểm tra đĩa cứng của bạn và sao chép các tệp tin. Tiến trình này phải mất ít nhất vài phút tuỳ theo tốc độ hệ thống của bạn.
- Sau quá trình sao chép hệ thống sẽ khởi động lại một lần. Trong quá trình khởi động lần này bạn không được bấm bất kỳ một phím nào hết và phải chờ đến khi trình cài đặt Windows bắt đầu xuất hiện, lần này là với giao diện đồ hoạ vốn có của Windows XP.
- Giờ đây bạn phải liên tục chú ý đến góc cuối cùng bên tay trái của màn hình cài đặt khi nào bạn nhìn thấy dòng chữ Installing Devices thì bạn ngay lập tức ấn tổ hợp phím SHIFT+F10. Một cửa sổ nhập lệnh văn bản kiểu DOS xuất hiện và bạn gõ vào lệnh NUSRMGR.CPL rồi ấn ENTER.
- Bạn sẽ được gì? Bạn sẽ truy cập vào User Accounts của Control Panel và ở đây bạn có thể đổi lại mật khẩu của mình một cách rất đơn giản. Còn nếu bạn không muốn phải nhập mật khẩu trong quá trình đăng nhập thì tại cửa sổ nhập mã lệnh ở trên bạn gõ lệnh control userpasswords2 rồi lựa chọn không cho phép hỏi mật khẩu khi đăng nhập là được.
- Hoàn tất mọi quá trình bạn đóng cửa sổ và tiếp tục với quá trình cài đặt đơn giản trong giây lát.
- Kết quả bạn được gì? Bạn sẽ có một hệ điều hành gần như mới và đăng nhập bằng mật khẩu mới. Mọi thứ bạn có vẫn giữ nguyên như cũ.
Chú ý trong mọi trường hợp bạn không được thoát khởi trình cài đặt hệ điều hành khi chưa chạy xong nếu không mọi việc bạn đã làm sẽ là công cốc.
Phương pháp khác
Nếu bạn là một doanh nghiệp mà xảy ra nhiều tình trạng như thế này thì bạn có thể đầu tư mua phần mềm của Winternals ERD tại địa chỉ http://www.winternals.com/products/repairandrecovery/locksmith.asp, phần mềm này sẽ đơn giản hoá mọi quá trình dành cho bạn
Mọt biện pháp khác là bạn có thể tạo ra một đĩa Password Reset Disk theo hướng dẫn của Microsoft. Biện pháp này cũng rất đơn giản.
Kường™
21-07-2008, 10:53 AM
1. Các tổ hợp phím Windows
- Mở menu Start: nhấn phím Windows.
- Chuyển đổi các Tab trên thanh Taskbar: Windows + Tab.
- Mở hộp thoại System Properties: Winndows + Pause/Break.
- Mở Windows Explorer: Windows + E.
- Thu nhỏ/phục hồi các cửa sổ: Windows + D.
- Thu nhỏ tất cả các cửa sổ đang mở: Windows + M.
- Hủy bỏ việc thu nhỏ các cửa sổ đang mở: Shift + Windows + M.
- Mở hộp thoại Run: Windows + R.
- Mở Find: All files: Windows + F.
- Mở Find: Computer: Ctrl + Windows + F.
2. Làm việc với Desktop, My Computer và Explorer
- Mở phần trợ giúp chung (Help and Support): F1.
- Đổi tên thư mục được chọn: F2.
- Mở hộp thoại tìm file trong thư mục hiện hành: F3.
- Cập nhật lại nội dung cửa sổ My Computer và Explorer: F5.
- Xóa mục được chọn và đưa vào Rycycle Bin: Del (Delete).
- Xóa hẳn mục được chọn, không đưa vào Rycycle Bin: Shift + Del (Shift + Delete).
- Hiển thị menu ngữ cảnh của mục được chọn: Shift + F10.
- Hiển thị hộp thoại Properties của mục được chọn: Alt + Enter.
- Mở menu Start: Ctrl + Esc.
- Chọn một mục từ menu Start: Ctrl + Esc, ký tự đầu tiên (nếu là phần trên của menu) hoặc ký tự gạch chân (nếu ở phần dưới của menu) thuộc tên mục được chọn.
- Mở Task Manager: Ctrl + Alt + Del.
3. Làm việc với Windows Explorer
- Mở hộp thoại Goto Folder: Ctrl + G hoặc F4.
- Di chuyển qua lại giữa 2 khung và hộp danh sách folder của cửa sổ Explorer: F6.
- Mở folder “mẹ đẻ” của folder hiện hành: Backspace.
- Chuyển đến file hoặc folder: Ký tự đầu của tên file hoặc folder tương ứng.
- Mở rộng tất cả các nhánh nằm dưới folder hiện hành: Alt + * (dấu * nằm ở bàn phím số).
- Thu gọn tất cả các nhánh nằm dưới folder hiện hành: Alt + - (dấu - nằm ở bàn phím số).
4. Làm việc với cửa sổ
- Chuyển đổi giữa các cửa sổ tài liệu: Ctrl + F6 .
- Chuyển đổi giữa các cửa sổ tài liệu (theo chiều ngược lại): Ctrl + Shift + F6.
- Thu nhỏ cửa sổ tài liệu hiện hành: Ctrl + F9.
- Phóng lớn cửa sổ tài liệu hiện hành: Ctrl + F10.
- Thu nhỏ tất cả các cửa sổ: Ctrl + Esc, Alt + M.
- Thay đổi kích thước cửa sổ: Ctrl + F8, phím mũi tên, Enter.
- Phục hồi kích thước cửa sổ tài liệu hiện hành: Ctrl + F5.
- Đóng cửa sổ tài liệu hiện hành: Ctrl + W.
- Di chuyển cửa sổ: Ctrl + F7, phím mũi tên, Enter.
- Sao chép cửa sổ hiện hành vào vùng đệm: Alt + Print Screen.
- Chép toàn bộ màn hình vào vùng đệm: Print Screen.
- Chuyển đổi giữa các chương trình và folder đang mở: Alt + Tab.
- Chuyển đổi giữa các chương trình và folder đang mở (theo chiều ngược lại): Alt + Shift + Tab.
- Chuyển đổi giữa các chương trình đang chạy: Alt + Esc.
- Chuyển đổi giữa các chương trình đang chạy (theo chiều ngược lại): Alt + Shift + Esc.
- Mở menu điều khiển của chương trình hoặc folder cửa sổ hiện hành: Alt + SpaceBar.
- Mở menu điều khiển của tài liệu hiện hành trong một chương trình: Alt + -.
- Đóng chương trình đang hoạt động: Alt + F4.
Kường™
21-07-2008, 10:54 AM
5. Làm việc với hộp thoại
- Mở folder “mẹ đẻ” của folder hiện hành một mức trong hộp thoại Open hay Save As: BackSpace.
- Mở hộp danh sách, ví dụ hộp Look In hay Save In trong hộp thoại Open hay Save As (nếu có nhiều hộp danh sách, trước tiên phải chọn hộp thích hợp): F4.
- Cập nhật lại nội dung hộp thoại Open hay Save As: F5.
- Di chuyển giữa các lựa chọn: Tab.
- Di chuyển giữa các lựa chọn (theo chiều ngược lại): Shift + Tab.
- Di chuyển giữa các thẻ (tab) trong hộp thoại có nhiều thẻ, chẳng hạn hộp thoại Display Properties của Control Panel (Settings\Control Panel): Ctrl + Tab.
- Di chuyển giữa các thẻ theo chiều ngược lại: Ctrl + Shift + Tab.
- Di chuyển trong một danh sách: Phím mũi tên.
- Chọn hoặc bỏ một ô kiểm (check box) đã được đánh dấu: SpaceBar.
- Chuyển đến một mục trong hộp danh sách thả xuống: Ký tự đầu tiên của tên mục.
- Chọn một mục; chọn hay bỏ chọn một ô kiểm: Alt + ký tự gạch dưới thuộc tên mục hoặc tên ô kiểm.
- Đóng hộp danh sách thả xuống đang được chọn: Esc.
Kường™
21-07-2008, 02:57 PM
Chắc hẳn bạn đã gặp phiền phức khá nhiều khi người lạ ngồi vào máy tính của mình mà không có mình bên cạnh. Bạn đã từng bị người khác đọc được những file dữ liệu bạn vừa truy xuất (khoảng 20 file để từ file mới nhất?) Sau đây là một vài thủ thuật nhỏ để bạn có thể bảo vệ được máy tính tránh sự tò mò, táy máy của người khác.
Làm ẩn các ổ đĩa trong My Computer (Windows9x và NT)
Thiết lập này cho phép bạn điều khiển sự hiện diện của các ổ đĩa trong My Computer, giúp bạn ẩn tất cả hay một ổ đĩa được chọn.
Các số thập phân tương ứng với các ổ đĩa cần ẩn (tối đa 26 ổ đĩa tương ứng với bảng chữ cái A đến Z): A:1, B:2, C:4, D:8, E:16, F:32, H:64, G:128, ...; Y:16777216; Z:33554432 (chỉ cần nhân 2 số của ổ đĩa đứng trước sẽ có số của ổ đĩa cần ẩn). ẩn tất cả: 67108863.
Ðầu tiên bạn hãy vào menu Start, chọn Run, đánh lệnh "REGEDIT" sau đó đi theo khoá sau:
***: [H***_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\Curre ntVersion\Policies\Explorer]
Sau đó vào phần hộp thoại phía bên phải click chuột phải vào [Neww\DWORD value] bạn sẽ nhận được 1 Value name mới. Bạn hãy rename nó lại thành NoDrives, sau khi đã đặt tên bạn hãy click phải chuột vào nó và chọn [Modify], bạn hãy nhập số vào phần Valuedate, tiếp tục OK và thoát ra khởi động lại máy để thay đổi có hiệu lực.
Lưu ý: Các ổ đĩa này vẫn xuất hiện trong File Manager, để gỡ bỏ File Manager hãy xóa file Winfile.exe
2. Không thêm các file mới mở vào mục Documents trên menu Start (Windows9x và NT)
Khi mở hay truy xuất tư liệu, tên của nó sẽ được thêm vào danh sách các thư mục mới mở trong Documents trên menu Start. Thủ thuật này không cho thêm vào các file đó trong danh sách.
Ðầu tiên bạn hãy vào menu Start, chọn Run, đánh lệnh "REGEDIT" sau đó đi theo khoá như phần 1 ở trên.
***: [H***_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\Curre ntVersion\Policies\Explorer]
Tiếp theo vào phần hộp thoại phía bên phải click chuột phải vào [Neww\DWORD value] bạn sẽ nhận được 1 Value name mới. Bạn hãy rename nó lại thành NoRecentDocsHistory, sau khi đã đặt tên bạn hãy click phải chuột vào nó và chọn [Modify], bạn hãy nhập số vào phần Valuedate, tiếp tục OK.
Bạn tiếp tục click chuột phải vào [New\String value] bạn sẽ nhận được 1 String name mới, rename nó thành Default, sau khi rename bạn hãy click phải chuột vào nó và chọn [Modify], bạn hãy nhập dòng "(value not set)" vào phần Valuedate, tiếp tục OK và thoát ra khởi động lại máy để thay đổi có hiệu lực.
Lưu ý: Bước thực hiện tạo String name mới thực sự không cần thiết nếu như bạn có 1 String như vậy ở cửa sổ.
3. ẩn Control Panel trên menu Start (Windows 9x và NT)
Thủ thuật này cho phép bạn dấu các Control Panel khỏi menu Start (giúp ích cho bạn trong việc đảm bảo an toàn máy tính khỏi sự táy máy của người lạ).
Ðầu tiên bạn hãy vào menu Start, chọn Run, đánh lệnh "REGEDIT" sau đó đi theo khoá như phần 1 ở trên.
***: [H***_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Windows\Curre ntVersion\Policies\Explorer]
Tạo 1 giá trị DWORD mới (Hoặc sửa đổi giá trị hiện có) và đặt tên là 'NoControlPanel'.
Vẫn click chuột phải như ở phần trên để vào Modify và thiết lập ở Valuedate giá trị là 1. Bây giờ bạn hãy thoát ra và khởi động lại máy để thay đổi có hiệu lực.
Nếu như các bạn không thích sử dụng các ứng dụng trên tiếp thì hãy Delete các giá trị DWORD đó.
Kường™
26-07-2008, 10:06 AM
Thiết lập mặc định của Windows Vista có thể khiến nhiều người dùng bực mình khi "hỏi ý kiến" quá nhiều, hay tự đổi thiết lập tắt máy. Vài chỉnh sửa đơn giản dưới đây sẽ khiến Vista "ngoan ngoãn" như XP ngày trước.
Chú ý: Các thủ thuật dưới đây tác động tới Windows Registry. Bạn nên sao lưu registry trước khi làm theo hướng dẫn.
1. Giảm bớt phiền toái UAC
http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/hoanghai/vista1_250708.jpg Gần như tất cả người dùng Vista đều tìm cách tắt UAC - User Account Control “lắm điều” ngay lần đầu tiên sử dụng Windows Vista. UAC là thành phần "quản lý người dùng" mới xuất hiện trên Vista, yêu cầu xác nhận mọi hành động thay đổi thông số hệ điều hành, từ sửa file hệ thống đến đơn giản như đổi giờ trên desktop, nhằm tránh phần mềm độc hại tự động can thiệp vào hệ thống. Ý tưởng tích cực, nhưng cách thực hiện tồi tệ khiến UAC trở thành chức năng bị chỉ trích nhiều nhất trên Windows Vista
Bạn có hai lựa chọn: tắt toàn bộ UAC, hoặc tắt UAC cho tài khoản admin trong khi vẫn kiểm soát các tài khoản cấp thấp hơn trên Vista.
Tắt toàn bộ UAC: chọn Control Panel, gõ “UAC” vào ô tìm kiếm. Sau khi bảng điều khiển UAC xuất hiện, chọn Turn off User Account Control.. và khởi động lại máy để xác nhận. Hoặc nhấn phím windows+R, gõ cmd và gõ tiếp đoạn mã sau:
Tắt UAC:
C:\Windows\System32\cmd.exe /k %windir%\System32\reg.exe ADD HKLM\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrentVersion\
Policies\System /v EnableLUA /t REG_DWORD /d 0 /f
Bật UAC
C:\Windows\System32\cmd.exe /k %windir%\System32\reg.exe ADD HKLM\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrentVersion\
Policies\System /v EnableLUA /t REG_DWORD /d 1 /f
Tắt UAC riêng với tài khoản Admin
Nếu dùng Windows Vista Business hoặc Ultimate: gõ scpol.msc trong ô tìm kiếm của Startmenu và nhấn enter. Chọn Local Policies > Securities Options > tìm dòng User Account Control: Behavior of the elevation prompt for administrators in Admin Approval Mode và nhấn đúp. Chọn tiếp Elevate without prompting. Bạn sẽ không bị UAC nhắc nhở về sau khi dùng máy bằng tài khoản admin.
Nếu dùng Windows Vista Home, bạn cần download và chạy đoạn registry này (http://www.howtogeek.com/wp-content/uploads/DisableUACforAdmin.zip).
2. Cấm Windows Update tự khởi động lại PC
http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/hoanghai/vista2_250708.jpg Chức năng tự khởi động khi cài đặt cập nhật Windows được bình chọn gây khó chịu nhiều thứ hai chỉ sau UAC. Bạn đang say sưa chơi game, bỗng.. “bụp”, Vista lạnh lùng khởi động lại sau khi tự động cài update. Hoặc tồi tệ hơn, bạn viết báo cáo hai tiếng đồng hồ, ra ngoài uống cốc nước, và quay lại chỉ để thấy .. màn hình đăng nhập sau khi Windows được cập nhật.
Cách khắc phục: cấm tự khởi động tạm thời bằng nút Postpone, hoặc tải phần mềm Auto Reboot Remover (http://www.intelliadmin.com/Downloads.htm), sau đó chọn Disable Auto Reboot khi đang dùng tải khoản admin.
3. Ngăn Vista tự nút đổi Sleep thành Shutdown sau khi Update
http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/hoanghai/vista3_250708.jpg Sleep Mode trên Vista là sự kết hợp của Standby+ Hibernate trên XP cũ, được nhiều người ưa thích vì sự thuận tiện của nó. Nhưng Vista có "thói quen xấu" tự đổi nút Sleep thành Shutdown sau khi cài đặt Windows Update (Turn off and install updates). Nếu bạn thường xuyên sử dụng Sleep, không gì khó chịu hơn khi lỡ nhấn shutdown, phải chờ cài xong update, khởi động lại và tìm lại những gì đang làm dở
Cách khắc phục: tải về và chạy đoạn registry sau đây (http://www.howtogeek.com/geekers/StopHijackingMySleepButton.zip).
4. Tắt tiếng “tính teng” đầy khó chịu
http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/hoanghai/vista4_250708.jpg Vista “lắm lời” hơn nhiều so với đàn anh XP: HDH này chèn âm thanh “leng keng” vào khi bạn nhấn chuột lên Yahoo Messenger buddy list, khi bạn mở folder, hoặc chỉ đơn giản .. nhấn vào link trên Internet Explorer. Với người dùng thích yên tĩnh, âm thanh "tíng teng" này quả thực rất khó chịu.
Cách khắc phục: Chọn Control Panel > Sound and Audio, hoặc mở Start Menu và gõ mmsys.cpl để bật bảng chỉnh sound. Chọn Sounds, sau đó tắt bỏ các âm thanh không cần thiết. Hoặc đơn giản hơn: chọn chế độ No Sound tắt bỏ hoàn toàn âm thanh của Windows.
Kường™
26-07-2008, 10:07 AM
Sử dụng máy tính một thời gian bạn thường gặp một số những rắc rối như: độ hiển thị màn hình giảm, máy in gặp vấn đề, bộ nhớ lỗi…vv. Để khắc phục những trục trặc này, bạn có thể áp dụng những cách dưới đây.
1. Độ hiển thị của màn hình kém. Trước tiên hãy kiểm tra chế độ cài đặt hiển thị bằng cách kích chuột phải vào Desktop, chọn Property trong hệ điều hành XP hoặc Personalize trong Windows Vista, sau đó chọn Settings.
Nếu bạn không thể tăng độ phân giải và chất lượng màu, hãy kích vào Advanced\ Adapter. Nếu Standard VGA Adapter hoặc các bộ điều hợp khác cùng loại hiển thị ra, hãy download driver thích hợp với máy tính của Bạn. Nếu adapter của bạn hiển thị ra thì hãy chọn phiên bản driver ưu tiên. Trong hệ điều hành XP, kích nút Properties\ Driver\Roll Back Driver. Trong hệ điều hành Window Vista, mở thanh Personalization Control Panel ra, sau đó chọn Display Settings \ Advanced Settings\ Properties và kích chuột vào Driver\ Roll Back Driver.
2. Máy in bị lỗi. Nguyên nhân dẫn đến trục trặc này có thể do các lệnh huỷ bỏ in (cancel) vấn chưa được xoá hoàn toàn khỏi bộ nhớ của máy in. Khi gặp vấn đề trên bạn hãy tắt máy in trong một phút, sau đó bật lại máy in. Trong thời gian chờ đợi, hãy kích chuột vào nút Start \ Printers and Faxes trong hệ điều hành XP, hoặc Start\ Printers trong hệ điều hành Windows Vista, để xoá toàn bộ dữ liệu trong lệnh in. Nếu vấn đề vẫn không được khắc phục, hãy tải và cài đặt lại driver máy in.
3. Máy in mặc định của bạn bị biến mất. Một số ứng dụng, như OneNote của Microsoft, sẽ cài đặt máy in mặc định, như là thiết bị tuỳ chọn đầu ra, và một số ứng dụng cũng có thể mặc định máy in này như là máy in chung cho tất cả các công việc cần in. Để khắc phục vấn đề này, trước tiến bạn chọn Start\ Run, và trong thư mục của Run đánh câu lệnh “control printers” và nhấn <Enter>.
Kích chuột phải vào máy in bạn muốn chọn và cài đặt nó như là máy in mặc định, Default Printer.
4. Máy tính hiển thị thông tin cho biết bộ nhớ gặp vấn đề. Để kiểm tra xem RAM có hoạt động tốt hoặc đang bị trục trặc hay không, bạn hãy sử dụng chương trình kiểm tra bộ nhớ MemTest86 (bạn có thể tải phần mền miễn phí này từ trên mạng về để sử dụng) và đưa nó vào đĩa khởi động boot; sau đó kiểm tra toàn bộ pin.
5. Folders chỉ hiện thị các icon có kích thước lớn. Thay đổi chế độ mặc định trong Windows Explorer bằng cách kích chuột phải vào bất kỳ folder nào, sau đó kích Tools\ Folder Options. Kích vào nút View \ Apply to All Folders (Apply to Folders trong hệ điều hành Windows Vista).
Kường™
29-07-2008, 02:45 PM
Hàng ngày bạn lướt Web, có thể bạn không biết rằng có vô số mối hiểm họa rình rập nhằm đánh cắp mật khẩu, tài khoản cá nhân, hoặc "ăn" hết sạch dữ liệu trong máy tính của bạn. Có 10 cách dưới đây để bạn khỏi phải lo lắng.
http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200803/original/images1519488_fire%20fox.jpg
Thường xuyên thay đổi mật khẩu cũng là một biện pháp bảo vệ khi lướt Net
1. Hãy chắc rằng hệ điều hành của bạn được cập nhật tự động và bức tường lửa (firewall) được bật lên.
2. Sử dụng các chương trình bảo mật bao gồm phần mềm chống virus và spyware và đăng ký cập nhật các phần mềm này.
3. Quét toàn bộ máy ít nhất một tháng một lần.
4. Không mở các file đính kèm hay ấn chuột vào những đường link trong email từ những ngươì bạn không quen biết.
5. Sử dụng mật khẩu ít nhất 8 ký tự hoặc số và biểu tượng và thường xuyên thay đổi chúng.
6. Truy cập Internet thông qua một bộ định tuyến, nó là một bức tường lửa ẩn cho bạn nên các bot (các ứng dụng phần mềm chạy các tác vụ tự động hóa trên mạng) không thể tiếp cận trực tiếp máy tính của bạn được.
7. Đừng sử dụng mật khẩu giống nhau cho tất cả các tài khoản, và sử dụng các mật khẩu phức tạp hơn cho những giao dịch quan trong như tài khoản ngân hàng.
8. Đừng kết nối Internet sử dụng mạng không dây mà không có mật khẩu.
9. Đừng gửi thông tin nhạy cảm tới một trang Web mà không bắt đầu bằng “http”, cụm từ “http” có nghĩa là nó được bảo vệ.
10. Khi bạn nhận email, hãy nghĩ xem liệu nó có thực sự là từ một người gửi có mục đích hay là một kẻ mạo danh trước khi hành động.
(Theo BDVN/Silicon Valley)
Kường™
29-07-2008, 02:48 PM
Nâng cấp laptop không đơn giản như nhu cầu thay thế máy tính, người dùng có thể sẽ không được bảo hành của hãng một khi thay đổi linh kiện không được sự đồng ý từ hãng hay nhà phân phối.
Luật của nhà phân phối
http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200804/original/images1532693_Laptop-repair.jpg
Nâng cấp laptop có thể là thay đổi pin để tăng lượng thời gian máy tính chạy khi không cắm nguồn điện, thay đổi ổ ghi CD thành ổ ghi DVD cho nhu cầu lưu trữ, hoặc thay màn hình, ổ cứng, RAM, thậm chí ngay cả CPU.
Qui định bảo hành của từng nhà phân phối laptop luôn khuyến cáo người dùng không nên tự ý nâng cấp laptop hoặc thay đổi linh kiện trong máy. Vì theo nhà phân phối, những thiết bị nâng cấp này có thể gây ra hỏng hóc phần cứng, trong đó thay CPU dễ gây ra hỏng hóc phần cứng nhất.
Những thương hiệu laptop như Acer, IBM, Lenovo, Dell, Toshiba… đều có qui định sản phẩm bảo hành phải trong trạng thái nguyên bản gốc của máy, không được phép thay bất kỳ linh kiện nào ảnh hưởng đến phần cứng bên trong máy. Chính sách này làm cho những người có nhu cầu nâng cấp hay thay thế linh kiện sử dụng laptop không có sự lựa chọn nào hơn là quyết định chỉ nâng cấp khi hết thời gian bảo hành của nhà phân phối hoặc chấp nhận rủi ro khi thay thế linh kiện.
Tuy có cứng nhắc trong qui định bảo hành nhưng trên thực tế các nhà phân phối vẫn nới rộng để người dùng đỡ nghẹt thở hơn, chẳng hạn như nhu cầu nâng cấp RAM để chạy Vista hay các ứng dụng đồ họa. Hiện tại, tất cả các nhà phân phối và sản xuất đều cho phép người dùng nâng cấp RAM.
Một điều nữa, khi người dùng nâng cấp các thiết bị khác ngoại trừ RAM thì nhà phân phối sẽ không nhận bảo hành laptop vì tem bị xé do người dùng thay đổi các linh kiện bên trong. Trong khi đó, nhà phân phối gửi sản phẩm bảo hành cho nhà sản xuất dựa trên số ****** hoặc part number của máy. Trong chừng mực nào đó, nhiều nhà phân phối vẫn bảo hành sản phẩm của khách hàng nếu có thể thay linh kiện laptop, tuy nhiên tùy theo lòng hảo tâm của người bảo hành là chính.
Nâng cấp không mất thời gian bảo hành?
Chính sách bảo hành của nhà phân phối cản trở người dùng nâng cấp máy, vì họ lo ngại sẽ không được nhà phân phối bảo hành sản phẩm. Trên thực tế, những thiết bị như RAM, pin, ổ quang ít ảnh hưởng đến phần cứng khác, cũng không làm thay đổi chính sách bảo hành của nhà phân phối. Đó là chưa kể trường hợp đại lý bán hàng còn tạo thêm điều kiện bảo hành như: dán tem ngay trên nắp mở thanh RAM để buộc người dùng nếu có thay RAM phải đến tận đại lý bán hàng đó…
Theo những người trong nghề, người tiêu dùng có nhu cầu nâng cấp nên đến trực tiếp nhà phân phối để hỏi thông tin bảo hành và thay thế linh kiện, vì như thế người dùng sẽ được đảm bảo từ nhà phân phối.
Trong trường hợp nhà phân phối không nâng cấp máy theo yêu cầu của khách hàng thì người tiêu dùng nên đến những cửa hàng chuyên bán và sửa chữa laptop có uy tín để nâng cấp máy.
Vì theo những cửa hàng này, chính sách bảo hành của nhà phân phối tuy rõ ràng trên giấy trắng mực đen, nhưng trên thực tế có sự co dãn và tùy theo đại lý bán hàng mà nhà phân phối có thể nới lỏng hay siết chặt bảo hành trong những trường hợp máy tính bị thay đổi phần cứng.
Cũng theo những người này, một khi laptop đã nâng cấp bị hỏng hóc, người dùng nên lắp lại các linh kiện cũ vào máy để chúng trở về trạng thái gốc, rồi sau đó hãy đem đi bảo hành tại nhà phân phối.
Đối với các máy tính được lắp ráp tại Việt Nam có phần dễ dàng hơn khi người dùng muốn nâng cấp máy, thay đổi linh kiện nay đi bảo hành. Ngoài qui định bảo hành riêng với laptop, người dùng có thể bảo hành từng linh kiện rời trong trường hợp nhà phân phối không nhận bảo hành laptop.
(Theo eCHIP)
Kường™
29-07-2008, 02:54 PM
Những công cụ này giúp cho máy tính của bạn không còn nặng nề với hàng đống dữ liệu dư thừa trên ổ cứng, tăng tốc kết nối mạng và tự động hóa công việc văn phòng. Đặc biệt sau khi trải nghiệm, bạn còn có thể quản lý được việc sử dụng Internet.
1. DTweak
http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200711/original/images1456181_tien%20ich.jpg (http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200711/original/images1456181_tien%20ich.jpg)
Đây là một công cụ đáng để sử dụng, cho khả năng cải thiện hiệu suất hệ thống Windows Vista. Với các chức năng cần dùng hàng ngày như dọn dẹp, chống phân tán Registry và ổ đĩa. Ngoài ra chương trình còn thực hiện nhiệm vụ tối ưu hóa RAM, bật tắt máy theo chỉ định, theo dõi tình trạng ổ đĩa và đưa ra yêu cầu sao dự phòng dữ liệu khi cần thiết. Bản dùng thử dung lượng 4MB được cung cấp tại đây (http://downloads.pcworld.com/pub/new/utilities/system_resources_tune_up_/DTweakSetup.exe).
2. AusLogics BoostSpeed
Dù máy tính chạy hệ điều hành Windows 98 hay Vista cũng sẽ vận hành nhanh hơn với tiện ích tất cả trong một này. Chức năng Boost Internet giúp tối ưu hóa đơn vị đường truyền cực đại (MTU) cho tốc độ kết nối gia tăng. Hay Boost Windows cung cấp các công cụ hứa hẹn tăng tốc thời gian bật tắt máy, tối ưu hóa hệ thống bộ nhớ cùng với các ứng dụng Microsoft Office và trình duyệt web. Hãy bấm vào đây (ftp://ftp.simtel.net/pub/simtelnet/msdos/sysutl/boostspeed_install.exe) để tải về bản dùng thử 15 ngày của chương trình.
3. Cleanup Assistant
Tiện ích miễn phí sử dụng này cho khả năng khơi thông hệ thống máy tính bằng cách dò tìm và loại bỏ những file không cần thiết tồn dư trên ổ cứng. Đặc biệt, chức năng xóa của chương trình này cho phép diệt trừ tận gốc file vì vậy một khi đã hủy bỏ thì không còn khôi phục lại được. Phiên bản được cung cấp tại đây (http://downloads.pcworld.com/pub/new/utilities/system_resources_tune_up_/Cleanup%20Assistant-1.10-Setup.exe).
4. Eusing Free Registry Cleaner
Nguyên nhân chính làm cho hệ thống bị chậm lại là do Registry bị lèn chặt các thông số vô dụng như bảng ghi phần mềm hết hạn sử dụng hoặc bị lỗi. Thậm chí khi gỡ bỏ phần mềm không dùng đến nữa thì nó vẫn để lại một bộ phận chương trình để theo dõi. Vì vậy, một trong những biện pháp khắc phục tốt nhất là xóa đi những gì không cần thiết hoặc sửa lại Registry.
Tiện ích này có khả năng rà quét, phát hiện và sửa chữa trục trặc. Để đảm bảo an toàn cho hệ thống, chương trình có cơ chế sao dự phòng trước khi thực hiện bất kỳ thay đổi nào. Nếu thấy xuất hiện sự cố mới, người sử dụng hoàn toàn có thể khôi phục lại nguyên trạng trước đó. Chương trình được tải tại đây. (http://downloads.pcworld.com/pub/new/utilities/system_resources_tune_up_/EFRCSetup.exe)
5. Auslogics Registry Defrag
Sau lâu ngày sử dụng, hệ thống máy tính sẽ chậm đi, đặc biệt là với những máy thường hay được cài đặt phần mềm mới cho mục đích dùng thử rồi sau đó lại loại bỏ. Như thế dẫn đến tình trạng Registry bị phân tán. Nhờ tiện ích này mà vấn đề có thể được giải quyết, máy tính không chỉ chạy nhanh hơn mà chương trình còn lấy lại được không gian đĩa do dữ liệu phân tán chiếm đóng. Bản dùng miễn phí có tại đây. (ftp://ftp.simtel.net/pub/simtelnet/msdos/sysutl/regdefrag_install.exe)
6. Advanced Windows Optimizer
Công cụ này mang đến một số tác dụng như tối ưu hóa hệ thống, nâng cao hiệu suất và dọn dẹp máy tính. Chức năng Registry Cleaner tiêu diệt Registry phế thải, trong khi Startup Cleaner giúp loại bỏ những ứng dụng không cần thiết cho thời gian khởi động máy tính nhanh hơn. Bên cạnh đó, tiện ích còn loại trừ các file thừa hay shortcut vô dụng. Phiên bản dùng thử cung cấp khả năng giới hạn sửa chữa 20 lỗi Registry được cung cấp tại đây (http://downloads.pcworld.com/pub/new/utilities/system_resources_tune_up_/awoinstall.exe).
7. Advanced Windows Care 2 Personal
Đơn giản và thực thi nhanh là những ưu điểm dễ nhận thấy ở tiện ích này. Với giao diện one-click (một cú click chuột), chương trình có khả năng phân tích và sửa chữa các trục trặc hiện hữu trên hệ thống máy tính.
Cùng với các chức năng cơ bản như quản lý mục starup để kiểm soát toàn bộ chương trình khởi động cùng Windows, hay sửa chữa Registry, dọn file rác, công cụ này còn có nhiều chức năng hữu ích khác hoạt động với điều kiện cấu hình phần cứng và phần mềm đáp ứng được, tiêu biểu là chức năng tiêu diệt spyware. Chương trình dùng miễn phí cung cấp tại đây (http://downloads.pcworld.com/pub/new/utilities/system_resources_tune_up_/AWCSetup.exe).
8. MySpeed PC Lite Edition
Với tiện ích này, tốc độ đường kết nối Internet được cân đong đến từng lưu lượng đẩy lên hay tải xuống. Các thông tin này còn được lập thành biểu đồ, qua đó người dùng có thể nắm được tốc độ mạng trong suốt thời kỳ sử dụng.
Ngoài ra, công cụ cũng hữu ích để kiểm định chất lượng dịch vụ, chẳng hạn như kết quả cho biết tốc độ tải lên đạt 5,66 megabits/giây có nghĩa là hợp lý cho dịch vụ băng thông giao động từ 6mbps đến 7mbps. Chương trình miễn phí sử dụng được cung cấp tại đây. (http://downloads.pcworld.com/pub/new/utilities/system_resources_tune_up_/msc.exe)
9. Bandwidth Monitor 2
Bên cạnh chức năng của một công cụ đo lường tốc độ mạng băng rộng, đây còn là một tiện ích ghi nhận những hoạt động vào mạng, trong đó có biểu đồ thống kê tổng khối lượng dữ liệu đưa lên cũng như tải xuống của người sử dụng trong ngày. Để tải bản miễn phí dung lượng chỉ hơn 800K, hãy bấm vào đây (http://dw.com.com/redir?edId=3&siteId=4&oId=3000-2085_4-10521410&ontId=2085&spi=1c4b55488be5a713eed31e8d0bcae64d&lop=link<ype=dl_dlnow&pid=10707583&mfgId=6275463&merId=6275463&destUrl=http%3A%2F%2Fwww.download.com%2F3001-2085_4-10707583.html%3Fspi%3D1c4b55488be5a713eed31e8d0bca e64d%26part%3Ddl-Bandwidth).
10. SG TCP Optimizer
Tốc độ đường truyền mạng băng rộng sẽ được tăng tốc với tiện ích này. Không chỉ có khả năng thiết lập những thông số gia tăng kết nối dù là Internet hay mạng LAN, mà còn mang lại tính ổn định cho băng thông. Chương trình yêu cầu người sử dụng cần có chút hiểu biết về kỹ thuật MTU, rồi vào mục Optimal settings để điều chình và click lên nút Apply changes để tạo dựng được cấu hình vào mạng tốt nhất. Tiện ích siêu gọn chỉ gần 600K và miễn phí sử dụng được tải về từ đây (http://www.speedguide.net/files/TCPOptimizer.exe).
11. cFosSpeed
Một tiện ích hứa hẹn tăng tốc được kết nối ADSL và cable modem của mạng tích hợp thông qua giải phát kỹ thuật ưu tiên gói dữ liệu xác định. Người dùng không nhất thiết phải tìm hiểu về các giao thức chuyển dữ liệu gói TCP/IP phức tạp nhưng vẫn sử dụng tốt công cụ này. Bởi vì chương trình có khả năng tự động xác định và điều chỉnh kết nối cho chất lượng tốt nhất khi người sử dụng vào mạng. Nhờ đó mà thời gian mở trang web cũng nhanh hơn và xem phim online không bị giật hình. Bản dùng thử 15 ngày được cung cấp tại đây (http://downloads.pcworld.com/pub/new/utilities/system_resources_tune_up_/cfosspeed-v406.exe).
12. uTorrent
Công cụ này giúp cho những ai thường hay tải phim tránh được các trở ngại về tốc độ băng thông. Tuy không làm tăng tốc đường truyền nhưng giao thức BitTorrent tiếp nhận cùng lúc nhiều gói dữ liệu phân tán tại nhiều nơi lưu trữ nên vẫn cho phép file được tải xuống một cách nhanh chóng. Một ưu điểm nữa của tiện ích là người dùng có thể tìm kiếm những file ưng ý trực tiếp từ chương trình này và quản lý danh sách cần tải về. Chương trình miễn phí sử dụng được cung cấp tại đây. (http://downloads.pcworld.com/pub/new/internet/internet_tools/utorrent.exe)
Kường™
29-07-2008, 02:59 PM
Bạn không cần phải đầu tư bất cứ một khoản tiền dù lớn hay nhỏ cho 15 phần mềm tuyệt vời này. Những công cụ ít được biết nhưng lại có khả năng làm được mọi thứ từ việc bảo vệ máy tính của bạn cho đến việc quản lý các phương tiện truyền thông.
http://images.vietnamnet.vn/dataimages/200705/original/images1304927_pc.jpgQua quá trình tìm hiểu, các chuyên gia đã sưu tập, kiểm tra và lựa chọn ra một bộ sưu tập gồm 15 phần mềm là những tiện ích miễn phí hữu ích mà nhiều người dùng chưa từng sử dụng hoặc nghe đến nó. Các phần mềm này được sắp xếp làm theo ba chức năng đặc trưng mà chúng đảm nhiệm: Phần mềm an ninh, công cụ hệ thống và phần mềm đồ họa cũng như các tiện ích đa phương tiện. Các chuyên gia chú ý nhấn mạnh đến những công dụng thực tế của các phần mềm này để giúp người dùng dễ dàng lựa chọn và sử dụng.
Trong số những tiện ích an ninh, các chuyên gia đã lựa chọn 2 công cụ tiêu biểu tiêu diệt spyware nguy hiểm là SpyCatcher Express và Squared HijackFree - sở dĩ là 2 công cụ là vì không có phần mềm an ninh riêng rẽ nào có thể tiêu diệt hết tất cả các Spyware khi hoạt động một mình. VistaFireWallControl là một lựa chọn phần mềm tường lửa khá tốt, nó sẽ giúp tăng cường khả năng phòng vệ của Windows Vista. Các chuyên gia cũng lựa chọn phần mềm Tor nhằm bảo vệ sự riêng tư của bạn khi bạn Online.
Ngoài ra, những công cụ hệ thống hữu dụng cũng được giới thiệu như:
- What’s Running cho phép bạn dễ dàng kiểm soát các chương trình và những tiến trình ẩn đang diễn ra trong máy tính.
- System Information for Windows lại bí mật lặn sâu vào từng ngõ ngách trong máy tính để xuất báo cáo cho bạn thấy chi tiết thông số về phần cứng và phần mềm đã được cài đặt và sử dụng.
- Eusing Free Registry Cleaner chẩn đoán chính xác trạng thái, thông báo những vấn đề trục trặc trong Registry của Windows, đưa ra những giải pháp tối ưu giúp máy tính của bạn chạy trơn tru hơn. Advanced WindowsCare thì lại cung cấp vô số các tính năng hiệu chỉnh cao cấp nhằm nâng cao hiệu suất làm việc cho cả phần cứng và phần mềm của máy tính.
- Undelete Plus xứng đáng là ứng viên xuất sắc cho chức năng cứu dữ liệu, giúp bạn lấy lại những file đã xóa mà chúng không còn tồn tại trong thùng rác của Windows nữa.
Về những công cụ đồ họa và phần mềm đa phương tiện, bạn sẽ thực sự ngạc nhiên trước sự tinh tế và quyền năng của những phần mềm miễn phí mà các chuyên gia khuyến cáo sử dụng. MediaMon*** giúp bạn thuận tiện trong việc quản lý và thưởng thức các tệp tin đa phương tiện như nhạc, phim. Photozig Albums Express không chỉ mạnh mẽ trong các chức năng quản lý ảnh mà nó còn có thể sửa và thực hiện chia sẻ ảnh rất tốt.
Đối với Google SketchUp, phần mềm này nổi bật trong các ứng dụng đồ họa 3D miễn phí, bạn có thể xây dựng những đối tượng 3 chiều như những cái nhà, boong tàu, bàn làm việc… và nhiều hơn thế nữa một cách hết sức dễ dàng, sinh động với chất lượng cao.
Cuối cùng, những tiện ích sau sẽ khép lại bộ sưu tập các phần mềm miễn phí tuyệt vời này. RSS Bandit sẽ giúp bạn đăng ký hay chọn đọc tin, bài bằng RSS, không những thế nó còn cho phép bạn quản lý, lưu trữ những RSS ưa thích ví như RSS của các địa chỉ web hay (báo, tin, sản phẩm…), các blog. Azureus là một phần mềm chia sẻ tệp tin trên mạng theo kiểu peer-to-peer (ngang hàng) dựa trên giao thức phổ biến nhất hiện nay là BitTorrent. ImgBurn sẽ giúp bạn sao chép những đĩa CD hay DVD một cách thật dễ dàng.
Bạn còn chần chờ gì nữa? Hãy tải ngay chúng về! Đó thực sự là những phần mềm tuyệt vời mà bạn cần có mà bạn không phải tốn một xu lẻ nào!! Danh sách và link tải về toàn bộ 15 phần mềm miễn phí tuyệt vời:
Security - Phần mềm An ninh máy tính
- SpyCatcher Express (http://www.tenebril.com/consumer/spyware/spycatcher-express.php)
- a-Squared HiJackFree (http://www.hijackfree.com/)
- VistaFirewallControl (http://www.download.com/VistaFirewallControl/3000-10435_4-10623889.html)
- Tor (http://tor.eff.org/)
System Tools - Công cụ hệ thống
- What’s Running (http://www.whatsrunning.net/whatsrunning/main.aspx)
- Eusing Free Registry Cleaner (http://www.eusing.com/free_registry_cleaner/registry_cleaner.htm)
- Undelete Plus (http://www.undelete-plus.com/)
- Advanced WindowsCare (http://www.iobit.com/AdvancedWindowsCarePersonal/index.html)
- System Information for Windows (http://www.gtopala.com/)
Graphics and Multimedia - Phần mềm Đồ họa và đa phương tiện
- Photozig Albums Express (http://www.photozig.com/)
- MediaMon*** (http://www.mediamon***.com/)
- Google SketchUp (http://sketchup.google.com/)
Những phần mềm khác
- RSS Bandit (http://www.rssbandit.org/)
- ImgBurn
(http://www.imgburn.com/)- Azureus (http://azureus.sourceforge.net/)
(Theo TTO/Preston Gralla, PCWORLD)
Kường™
30-07-2008, 10:51 AM
Như các bạn đã biết vấn đề bản quyền cho hệ điều hành là một việc rất được coi trọng.Hầu hết các cá nhân người Việt Nam ta (đặc biệt là giới học sinh - sinh viên) không có đủ điều kiện để mua bản quyền cho một hệ điều hành cài trên PC hay Laptop của mình.
Trên Benhvientinhoc đã post từ rất lâu bản Win có bản quyền của hãng máy xách tay DELL--->đây là một bản win tốt cơ hội cho những ai muốn dùng phần mềm chính hãng chứ không phải bẻ khóa như mấy đĩa CD 7k VND bán ở mấy tiệm CD tin học.
Để thuận lợi hơn cho quá trình cài đặt và sử dụng máy tính .Lấy nguồn từ bản Win OEM DELL này mình đã bào chế ra bản GHOST hệ điều hành WINDOWS XP PROFESSIONAL SERVICE PACK 2 OEM (ACTIVATED) có thể bung trên hầu hết các MAINBOARD thông dụng hiện nay sử dụng chip với chip set INTEL hay SIS hoặc VIA (Pen 3 "đời nay chẳng ai dùng P3",Pen 4,AMD Athlon,Pen D,Pen E,Core 2 Duo) các main 81x--->9xx của nhiều hãng nổi tiếng như Intel,Gigabyte,Foxconn,Asus,Asrock,MSI,...
Bản ghost có dung lượng 690MB có ưu điểm như sau:
]- Tương thích trên nhiều cấu hình khác nhau.
- Không gây xung đột phần cứng.
- Có cài đặt các phần mềm thông dụng phục vụ cho học tập hay văn phòng như:
+Office 2003 bao gồm MS word,MS Exel,MS Power Point,
+MathType 5.2 gõ công thức toán học.
+Bộ gõ tiếng Việt Viet***2000 đã đăng kí.
+Bộ Font VNI ,UNICODE và TCVN-3
+Phần mềm đọc định dạng PDF là PDF FOXIT READER
+Winrar 3.71 nén và giải nén với theme đẹp.
+Ổ ảo Vitual Driver 8.
+Font chữ Cleartype đẹp sắc nét.
+Windows Media Player 10 Final.
+SA Flash Player 8 chơi nhạc định dạng SWF
+Visual C++2005 Runtime
+Flash Player Plugin v9 + ActiveX flash 9
+Theme Windows Media Center 2008
+..
[CENTER]Còn có chút nhược điểm để các bạn fix luôn:máy shutdown chậm hơn bình thường 10-15s tùy theo cấu hình máy.Đó là do mình đặt chế độ ClearPageFileAtShutdown nhằm xóa sạch cache trước khi tắt máy,điều này làm cho cache sạch sẽ hơn và win chạy trơn tru hơn lần sau.Để tắt chức năng này các bạn làm như sau:
Vào Run gõ Regedit -->enter tìm đến khóa [H***_LOCAL_MACHINE\SYSTEM\CurrentControlSet\Contro l\Session Manager\Memory Management]
thay đổi giá trị của ClearPageFileAtShutdown từ 1 về 0 sau đó restart máy là được.(hoặc down file reg sẵn tại đính kèm chỉ việc nháy đúp vào là xong)
Các bạn down load đủ các mảnh của đĩa này về cho vào cùng 1 thư mục rồi dùng Winrar giải nén ra được 1 file duy nhất là
XP2_OEM.ISO.
Dùng Nero hoặc trình ghi đĩa nào đó BURN IMAGE này TO DISC.Vậy là bạn có một đĩa GHOST tự động boot và GHOST trong DOS rồi đó .Có thể giải nén file iso này ra đĩa cứng và bung nó trong DOS cũng được chứ không nhất thiết phải ghi ra đĩa.
*Lưu ý: để thuận tiện cho quá trình phục hồi windows sau này mình khuyên các bạn nên đặt bản sao lưu ở nền ổ D:\ và có tên là capcuu (.gho).Hướng dẫn xem trong mục DOS (vào dòng thứ hai khi khởi động máy,bạn có 3 giây để lựa chọn mục này) nhằm tạo ra ghost tự động chỉ cần đánh lệnh "capcuu" rồi nhấn Enter là ổ C về trạng thái như lúc bạn sao lưu.
----->dài dòng quá.
Địa chỉ download đây:
MẢNH SỐ 1 (http://www.mediafire.com/?02zmz7jom7e) hoặc http://mihd.net/vm0f8ps (http://mihd.net/vm0f8ps)
MẢNH SỐ 2 (http://www.mediafire.com/?xcz0z4wmz41) hoặc http://mihd.net/fagq6in (http://mihd.net/fagq6in)
MẢNH SỐ 3 (http://www.mediafire.com/?51r24s9ixey) hoặc http://mihd.net/ru45x8s (http://mihd.net/ru45x8s)
MẢNH SỐ 4 (http://www.mediafire.com/?mzmjstka1u9) hoặc http://mihd.net/fhbo02x (http://mihd.net/fhbo02x)
MẢNH SỐ 5 (http://www.mediafire.com/?pptdd2pddd4) hoặc http://mihd.net/0oukzre (http://mihd.net/0oukzre)
MẢNH SỐ 6 (http://www.mediafire.com/?fyty9ka1p2y)
MẢNH SỐ 7 (http://www.mediafire.com/?hy23jnhkxgm)
MẢNH SỐ 8 (http://www.mediafire.com/?typm0mndxgy) hoặc http://mihd.net/07kwual (http://mihd.net/07kwual)
MẢNH SỐ 9 (http://www.mediafire.com/?njbm8wrgxmt) hoặc http://mihd.net/ev01xt7 (http://mihd.net/ev01xt7)
MẢNH SỐ 10 (http://www.mediafire.com/?ko0jyg4ojaz)
MẢNH SỐ 11 (http://www.mediafire.com/?p3klwyzavdb)
MẢNH SỐ 12 (http://www.mediafire.com/?lfjm0hnzyzf)
MẢNH SỐ 13 (http://www.mediafire.com/?dztemlgposj)
MẢNH SỐ 14 (http://www.mediafire.com/?yxqjkjzbylv)
MẢNH CUỐI CÙNG (http://www.mediafire.com/?t1tx1ymhg3w) hoặc http://mihd.net/w35xcy6 (http://mihd.net/w35xcy6)
pass khi load đến bản ghost nó đòi thì làm ơn gõ số :
051205
[COLOR=black][FONT=Tahoma]CODE(Mã)
http://rapidshare.com/files/109589195/XP2_OEM.part01.rar
http://rapidshare.com/files/109589174/XP2_OEM.part02.rar
http://rapidshare.com/files/109589355/XP2_OEM.part03.rar
http://rapidshare.com/files/109589278/XP2_OEM.part04.rar
http://rapidshare.com/files/109609095/XP2_OEM.part05.rar
http://rapidshare.com/files/109626372/XP2_OEM.part06.rar
http://rapidshare.com/files/109872023/XP2_OEM.part07.rar
http://rapidshare.com/files/109658669/XP2_OEM.part08.rar
http://rapidshare.com/files/109658701/xp2_OEM.part09.rar
http://rapidshare.com/files/109845915/XP2_OEM.part10.rar
http://rapidshare.com/files/109664895/XP2_OEM.part11.rar
http://rapidshare.com/files/109688581/XP2_OEM.part12.rar
http://rapidshare.com/files/109687912/XP2_OEM.part13.rar
http://rapidshare.com/files/109658731/XP2_OEM.part14.rar
http://rapidshare.com/files/109864456/XP2_OEM.part15.rar
Kường™
30-07-2008, 11:23 AM
Đầu tiên các pak vào Start, Run,gõ Regedit rùi tìm đến khóa
H***_LOCAL_MACHINE\Software\Microsoft\WindowsNT\Cu rrentVersion\WPAEvents
Ở ô bên phải nhân chuột phải vào OOBETimer rùi click vào Modify.Tiếp đến hãy thay đổi một khóa bất kì(ví dụ 71 thành 72 chẳng hạn).Sau đó hãy đóng nó lại và tiếp tục vào Start , Run , và đánh:
%systemroot%\system32\oobe\msoobe.exe /a
Nó sẽ đưa các pak đến cửa sổ Active windows.Đừng lo hãy chọn:
I want to telephone a customer service representative to activate Windows
Tiếp đến nhấn Next ,nhấn Change Product ***
Các pak hãy nhập cho em cái *** này nha(đây là *** xịn đó)
DHXQ2-WRGCD-WGYJY-HHYDH-KKX9B
Đánh xong hãy nhấn Update.Nó sẽ lại đưa chúng ta về cửa sổ Active,đừng quan tâm,hãy đóng nó lại bằng cách nhấn vào Remind me later
Xong đâu đó rùi thì còn chờ gì nữa,khởi động lại Windows đi thôi.Khởi động lại xong hãy vào Run , đánh tiếp
%systemroot%\system32\oobe\msoobe.exe /a
Cửa sổ Active sẽ lại hiện ra nhưng ko phải là bắt chúng ta Active mà là báo cho ta biết Windows is activated.
-Vậy là Windows đã có bản quyền rùi đó.Hãy tận hưởng bằng cách vào ngay trang update hay cài
IE7,WMP11,Windows Defender hay bất cứ cái gị có check bản quyền của Microsoft
[SIZE=5]Bài viết đáng được "thank" - các Pak nghĩ sao ?? :p
Kường™
30-07-2008, 06:07 PM
F5: cập nhật (làm mới) trang web hiện tại.
Backspace: trở lại trang web đã truy cập trước.
Ctrl+N: mở ra một cửa số duyệt web mới.
F11: để xem trang web dưới chế độ toàn màn hình (full-screen mode, nhấn F11 một lần nữa để trở lại chế độ bình thường).
Ctrl+P: Gửi lệnh in trang web hiện tại tới máy in.
Ctrl+H: Hiển thị lịch sử truy cập web (các trang web đã từng được truy cập).
Ctrl+W: Đóng trang web đang truy cập hiện tại.
Esc: Ngừng việc truy cập web.
Ctrl+Enter: Tự động cho thêm "www" và ".com" lần lượt vào đầu và cuối địa chỉ web được nhập tại thanh địa chỉ web (Address Bar).
Ví dụ khi bạn nhập chữ "microsoft" vào thanh địa chỉ, sau đó nhấn và giữ phím Ctrl rồi nhấn phím Enter thì lập tức trình duyệt sẽ tự động sửa thành "www.microsoft.com" và đưa bạn tới trang chủ của tập đoàn Microsoft.
Kường™
30-07-2008, 06:08 PM
Các loại virus, chương trình gián điệp (spyware hay malware) ngày càng được lập trình tinh vi để dễ dàng tìm kẽ hở của bộ lọc (filter) nội dung web tích hợp trong trình duyệt và tấn công máy tính. Nếu hiểu biết về các phương thức phát tán của chúng, bạn có thể dễ dàng giữ an toàn cho máy tính của mình.
Phương thức tấn công nguy hại nhất hiện nay được biết là botnet (mạng máy tính ma). Bất kỳ máy tính nào bị nhiễm virus dạng này sẽ bị tước quyền điều khiển để tạo lập một kênh đặc biệt trên hệ thống chat miễn phí IRC cho mục đích trao đổi thông tin và nhận lệnh chỉ huy từ xa nhằm khai thác dữ liệu cá nhân hay tiếp tục sứ mệnh phát tán vào các máy tính nối mạng khác.
Như vậy biện pháp tốt nhất để đẩy lùi các nguy cơ bảo bật này là ngăn chặn và phòng ngừa. Nếu bạn đã sử dụng công cụ anti-malware cho hệ thống máy tính thì nên thường xuyên cập nhật và chạy thêm một tiện ích tường lửa (firewall). Phần mềm này có nhiệm vụ quản lý và cấp phép cho những ứng dụng thực thi trên PC của bạn qua mạng hay các chương trình chạy cục bộ không có chức năng kết nối trực tuyến.
Bên cạnh đó, bạn cũng nên tự thiết lập cho mình một danh sách ranh giới của máy tính hoạt động bình thường theo hệ thống phần mềm của bạn cài đặt. Dựa trên căn cứ này, khi thấy xuất hiện các dấu hiệu khác thường như hiệu suất chậm đi hay phần mềm "không nghe lời" thì bạn có thể so sánh và tìm ra những gì đã bị thay đổi trên hệ thống phần mềm.
Nếu vẫn không thể tái lập được cấu hình ổn định như trước, bạn có thể vận dụng các phương pháp sau đây.
Kích hoạt công cụ anti-malware mới. Bạn có thể tải bản eEye Blink miễn phí sử dụng tại đây. Công cụ được đánh giá khá mạnh trong việc tìm và diệt tận gốc hầu hết các loại virus. Bên cạnh đó còn có dịch vụ của Trend Micro cho phép quét trực tuyến và tải về các thông tin nhận dạng mới nhất (signature) để bạn ra soát lại toàn bộ hệ thống. Tương tự như vậy, Symantec Norton Internet Security 2008 là một công cụ bảo mật toàn diện đã được nhiều tạp chí chuyên ngành CNTT đánh giá cao.
Tải bản HijackThis về sử dụng. Khi cho chạy công cụ này, hệ thống máy tính của bạn sẽ được kiểm tra và ghi lại thông tin về tình trạng hiện tại. Chương trình sẽ tự động gửi đi kết quả tới các mạng chuyên về an ninh máy tính. Khoảng một ngày sau, thậm chí có khi chỉ trong vài giờ, bạn sẽ nhận được sự tư vấn từ xa của chuyên gia bảo mật để từng bước khôi phục lại "sức khỏe" cho máy tính, loại bỏ các mã độc bị cài vào.
Kiểm tra bảng theo dõi của firewwall để thấy được tất cả các phần mềm ứng dụng chạy trên hệ thống gần đây cũng như lưu lượng dữ liệu được gửi đi hay nhận về qua mạng. Xóa hết các thông số cấu hình hoạt động của chương trình firewall và sau đó tái lập lại tất cả. Thao tác này khá bất tiện nhưng rất hiệu quả vì nó giúp bạn quản lý được các ứng dụng hoạt động trên hệ thống máy tính nối mạng.
Kiểm tra các file trong thư mục chủ. Bạn có thể tìm ra trong C:\Windows\System32\Drivers\Etc khá nhiều file do botnet ghi đè để đánh lừa máy tính tự động kết nối đến một địa chỉ IP của server. Thông thường trong file nguyên bản (chưa bị ghi đè) có dòng chữ 127.0.0.1 local host và còn có thể xuất hiện thêm ký tự % hay # để chỉ định hệ thống bỏ qua lệnh thực thi. Nếu bạn phát hiện thấy các dòng chữ khác xuất hiện thì hãy sao dự phòng file gốc, sau đó xóa hết các dòng chữ ghi ngờ và ghi đè file đã sửa.
Click vào Start chọn Run. Gõ chữ cmd rồi nhấn enter để chuyển sang thực hiện các câu lệnh trên môi trường DOS. Tiếp theo bạn gõ arp -a và ghi ra giấy hay chụp lại ảnh màn hình các thông số hiển thị. Nếu khả nghi máy tính bị nhiễm botnet, bạn lập lại bước này để kiểm tra danh sách các địa chỉ IP có sai lệch so với trước không. Thông số này mà khác đi thì nhiều khả năng hệ thống có vấn đề.
Cũng theo cách đó, bạn gõ netstat -a để liệt kê tất cả các kết nối mạng đang hoạt động. Như vậy, bạn có thể tìm ra các địa chỉ đáng ngờ. Đặc biệt, nếu kết quả của bước này giống với bước trên đây thì rất nhiều khả năng hệ thống đã nhiễm botnet.
Sử dụng tiện ích Windows Task Manager hay tốt hơn là Process Explorer để quan sát tất cả các ứng dụng đang chạy cục bộ trên hệ thống. Từng ứng dụng được sắp xếp theo thứ tự sử dụng tài nguyên bộ nhớ nhiều hay ít. Nếu bất cứ chương trình nào trong 10 phần mềm dẫn đầu mà bạn không hề biết gì về nó thì đó có thể là virus. Để thuận tiện hơn, bạn có công cụ FileAdvisor để hỗ trợ tìm ra manh mối của từng ứng dụng.
Dùng công cụ tìm kiếm để truy tìm từ khóa mang tên của ứng dụng và chữ "removal". Các bước loại bỏ chương trình lạ có thể phức tạp hơn nhiều so với thao tác cách đơn giản xóa đi một file nào đó. Vì botnet đã gây ra những thay đổi trong Registry và hậu quả khác trên hệ điều hành, nên bạn cần bình tĩnh cũng như kiên nhẫn để tập trung gỡ rối, đưa máy tính trở lại trạng thái hoạt động bình thường.
(Theo PC Magazine
Kường™
30-07-2008, 06:10 PM
Nếu bạn đang phải sử dụng chung một chiếc máy tính (PC) với người khác và muốn thực sự kiểm soát họ trong các hành động như tắt hay khởi động lại máy tính, bạn có thể thực hiện theo một phương pháp cực kỳ đơn giản sau…
Một chiếc máy vi tính sẽ có 3 phương pháp chính để tắt như: nhấn nút Turn Off Computer từ thanh thực đơn khởi động (Start) và chọn nút Turn Off, tắt trực tiếp bằng việc nhấn nút Power trên CPU của máy và cách cuối cùng là rút nguồn điện. Hai cách sau cùng đều làm cho tuổi thọ của chiếc máy vi tính kém đi và ít người sử dụng thông thường biết đến và dám thực hiện, vì thế 24H xin giới thiệu với các bạn một thủ thuật đơn giản giúp ngăn cản khả năng tắt máy tính bằng cách vô hiệu hoá sự thực thi của nút Turn Off Computer trong hệ điều hành Microsoft Windows XP.
Áp dụng thủ thuật này, những người sử dụng chung PC với bạn sẽ không thể tắt, khởi động lại và “Stand by” chiếc PC bằng việc nhấn nút Turn Off Computer trên thanh thực đơn Start. Thủ thuật này cũng có tác dụng cao nhất đối với những chiếc máy tính dành cho nhu cầu sử dụng công cộng, và luôn nằm dưới nguy cơ bị những người sử dụng vô tình tắt đi.
Mời các bạn làm theo những bước sau đây để thực hiện thủ thuật:
Đầu tiên, bạn cần chắc chắn rằng mình đã đăng nhập vào PC với chế độ quản trị (Administrator Mode). Nhấn nút Start và nhập dòng lệnh "regedit" và hộp thoại của tuỳ chọn Run rồi nhấn Enter để chuyển sang bước tiếp theo:
http://mst.24h.com.vn/upload/news/2008-05-06/phongvh060508-VID01.jpg
Bây giờ, bạn hãy tới một cửa sổ theo đường dẫn sau:
H***_CURRENT_USERSoftwareMicrosoftWindows
CurrentVersionPoliciesExplorer
Tại phần bên phải của cửa sổ Explorer, nhấn chuột phải và chọn, tạo mới một hàm DWORD với tên là "NoClose":
http://mst.24h.com.vn/upload/news/2008-05-06/phongvh060508-VID02.jpg
Bây giờ, gán giá trị bằng 1 vào hộp giá trị của hàm vừa tạo và nhấn OK, sau đó tắt tất cả những cửa sổ hiện hành và khởi động lại PC để hàm DWORD vừa tạo được thực thi:
http://mst.24h.com.vn/upload/news/2008-05-06/phongvh060508-VID03.jpg
Nếu lần sau, bạn muốn nút Turn Off Computer của mình hoạt động lại như bình thường, bạn chỉ cần thay đổi 1 thành 0 trong hộp giá trị của hàm DWORD vừa tạo hoặc nhanh hơn, bạn có thể xoá hàm DWORD đi và khởi động lại PC. Chiếc PC của bạn sẽ lại trở lại với “vẻ nguyên sơ” của nó.
Kường™
30-07-2008, 06:11 PM
Những tài liệu của bạn luôn gặp nguy hiểm lớn với những con mắt tò mò, và khi bạn đã làm mọi cách để khoá, mã hoá tài liệu của mình mà vẫn không thể giữ chúng an toàn thì bạn sẽ làm gì? Hãy giấu chúng đi…
Thủ thuật “mini” này sẽ rất hữu dụng với những người sử dụng máy tính (PC) tại nhà - những người muốn giấu hoặc bảo vệ những dữ liệu quan trọng của mình trước sự đe doạ đến từ những người sử dụng khác.
Sử dụng hệ điều hành (HĐH) Windows XP, bạn có thể giấu bất kỳ một phân vùng ổ cứng nào hoặc thậm chí là tất cả các phân vùng mà bạn không muốn những người sử dụng khác “tò mò” nhảy vào. Bằng cách đơn giản là tắt tính năng hiển thị của những phân vùng đó bạn có thể giữ cho những dữ liệu của mình được an toàn.
Mời các bạn thực hiện theo các bước sau đây để thực hiện việc giấu phân vùng ổ cứng:
Đầu tiên, bạn cần chắc chắn rằng mình đã đăng nhập vào PC dưới tài khoản quản trị máy (Administrator mode).
Bây giờ, nhấn vào nút Start và gõ “regedit” sau khi chọn hộp thoại Run, rồi nhấn Enter:
Tiếp theo, tới cửa sổ Explorer theo đường dẫn sau:
H***_CURRENT_USERSoftwareMicrosoftWindowsCurrentVe rsion PoliciesExplorer
http://mst.24h.com.vn/upload/news/2008-05-04/phongvh040508-VID06.jpg
Bên phía phải của cửa sổ hiện tại, nhấn chuột phải và chọn tạo mới một hàm DWORD với tên “NoDrives” rồi gán giá trị cho hàm vừa tạo:
http://mst.24h.com.vn/upload/news/2008-05-04/phongvh040508-VID07.jpg
Nếu bạn muốn giấu tất cả các phân vùng ổ cứng thì gán giá trị “3FFFFFF”
http://mst.24h.com.vn/upload/news/2008-05-04/phongvh040508-VID08.jpg
Nếu bạn muốn giấu một số phân vùng nào đó (ví dụ: có các phân vùng A, B, C, D, E, F, G, H… trong ổ cứng của bạn thì các giá trị tương ứng là 1, 2, 4, 8, 16, 32, 64… và 128) thì gán giá trị tương ứng của phân vùng đó.
Giả sử bạn muốn giấu phân vùng ổ F, bạn hãy nhập giá trị bằng “32” vào hộp giá trị của hàm DWORD sau đó nhấn OK và khởi động lại PC để hàm mới được thực thi.
http://mst.24h.com.vn/upload/news/2008-05-04/phongvh040508-VID09.jpg
Sau này trong trường hợp muốn cho hiển thị lại các phân vùng này thì bạn chỉ việc thực hiện lại các bước như trên và xoá hàm DWORD đã tạo ra, khởi động lại PC và chiếc máy tính của bạn sẽ trở lại như ban đầu.
Kường™
30-07-2008, 06:16 PM
Nếu máy tính không nhận ra ổ USB hay không cho tắt thiết bị này dù bạn đã cố gắng làm đúng quy trình, hãy thử những cách dễ làm sau đây.
Muốn tắt ổ khi Windows không cho tắt
Khi muốn gỡ thiết bị này ra khỏi PC, đôi khi người dùng thấy thông báo ổ này không thể tắt ngay và hãy thử lần sau.
Cách 1: Hãy mở task bar và khay hệ thống để kiểm tra xem có chương trình gì đang chạy các file ngoài ổ USB không và hãy đóng chúng lại. Thực ra, khi bạn đã tắt các file đó nhưng vẫn có một số chương trình chạy chúng.
Cách 2: Nếu vẫn chưa được, hãy dùng Windows Task Manager:
- Nhấn tổ hợp phím Ctrl-Alt-Delete để mở cửa sổ này. Nếu dùng Windows Vista thì chỉ cần nhấn Start Task Manager.
- Trên cửa sổ Windows Task Manager, nhấn thẻ Processes.
- Kiểm tra danh sách các hoạt động xử lý của máy tính, tìm những gì có liên quan đến ổ USB, ví dụ một cái tên tương tự như trên ổ.
- Nếu thấy, hãy chọn nó và nhấn nút End Process > OK.
- Thử tắt ổ USB lần nữa.
Cách 3: Nếu Windows vẫn chưa cho phép gỡ ổ, người dùng có thể áp dụng "biện pháp mạnh" là tắt máy tính, tháo USB ra và khởi động lại máy.
Cách 4: Dùng phần mềm USB Safely Remove (giá 20 USD) để hiển thị các hoạt động gây trục trặc cho máy tính và tắt một cách nhanh chóng.
Ổ USB chạy chậm
Định dạng ổ USB theo chuẩn NTFS có thể tăng tốc độ lên 70% so với FAT. Tuy nhiên, vấn đề là chuẩn chỉ tương thích với hệ điều hành Windows 2000, XP và Vista. Tùy theo cấu hình của hệ thống, người ta cũng có thể dùng nó trên máy chạy hệ điều hành Mac hay Linux. Như vậy, tùy theo từng máy, ổ USB dùng NTFS mới phát huy hiệu quả. Còn hầu hết các máy tính hiện nay đều đọc dữ liệu định dạng FAT và FAT32.
Nhưng định dạng NTFS có thể gây ra rắc rối vì nó lưu trữ các thao tác ghi và người ta dễ mất dữ liệu khi rút ổ USB trước khi nhận được thông báo "tháo ổ an toàn".
Dù vậy, với những người cần tốc độ có thể làm theo cách sau:
- Trong cửa sổ danh mục ổ, nhấn chuột phải vào ổ flash và nhấn Properties.
- Chọn thẻ Hardware > chọn ổ flash trong danh sách.
- Nhấn nút Hardware.
- Trong hộp thoại kết quả, nhấn thẻ Policies > Optimize for performance > OK > OK.
- Nhấn chuột phải vào ổ flash và chọn Format...
- Trong menu File system xổ xuống, chọn NTFS và nhấn NTFS.
Máy tính không "nhìn" thấy ổ USB
Trước hết, thử cắm USB vào máy tính khác và cắm ổ USB khác vào máy tính này để tìm hiểu nguyên nhân. Dù vậy, người dùng có thể thử gỡ bỏ cài đặt và cài lại trình điều khiển một cách dễ dàng.
- Cắm USB vào máy tính.
- Nếu dùng Windows XP, chọn Start > Programs > chuột phải vào My Computer > Properties. Nhấn thẻ Hardware > Device Manager. Nếu dùng Vista, nhấn Start > gõ dòng devide manager > nhấn phím Enter.
- Bạn sẽ tìm thấy ổ này được liệt kê dưới mục Disk drives.
- Nhấn chuột phải vào ổ này và chọn Uninstall > OK.
- Tháo ổ USB cà cắm lại. Trình điều khiển sẽ tự động cài đặt lại.
Hệ điều hành Vista có trục trặc là không nhận ra ổ trong một số tình huống như PC đang trong trạng thái nghỉ (Hibernate). Microsoft phát hành bản vá cho lỗi này vào tháng 10/2007 nhưng chỉ bản chính hãng mới cập nhật.
Kường™
30-07-2008, 06:18 PM
Đa số các trường hợp lây nhiễm virus và spyware đều bắt nguồn từ email đính kèm những file mà nội dung chứa virus hoặc spyware. Bài viết sau đây sẽ hướng dẫn cách thức để nâng cao độ an toàn khi nhận được những email có đình kèm 1 file nào đó.
Phần lớn virus và spyware lây lan qua email chủ yếu là W32.Beagle, W32.Netsky, MyDoom và một số loại khác. Hầu hết các virus này lan truyền hoặc sao chép từ PC này sang PC khác qua đường email dưới dạng file đính kèm. Rất dễ bị nhận ra chúng nếu bạn chú ý, bởi thường xuất hiện ở dạng file thực thi (định dạng file .exe, mặc dù không phải luôn luôn như vậy).
Một số file đính kèm chứa các Macro (những chương trình đơn giản chạy trong các chương trình khác, tất cả các chương trình trong bộ Microsoft Office đều sử dụng macro). Nếu bạn không quen với việc nhận dạng phần mở rộng của file, đừng lo lắng vì nội dung bài viết này sẽ hướng dẫn cụ thể cho bạn.
Phần mở rộng của file là nội dung thông báo cho chương trình cách xử lý từng phần cụ thể của dữ liệu. Ví dụ như hầu hết mọi người đều có một chút quen thuộc đối với phần mở rộng của file như .doc hoặc .txt . Cả hai đều là file dạng văn bản và khi người sử dụng mở file này, Hệ điều hành sẽ căn cứ vào phần mở rộng này để biết cách mở và sử dụng chương trình nào để mở những file này.
Các ****er cố gắng sử dụng một số biện pháp đánh lừa mắt của bạn để bạn mở email của chúng và kích hoạt virus, thường ở dạng file đính kèm. Hầu hết các chương trình diệt virus ngày nay sẽ ngăn chặn, hoặc tối thiểu là đưa ra cảnh báo về những file đính kèm có nguy cơ cao và thậm chí sẽ tiến hành các biện pháp để bảo vệ bạn. Tuy nhiên, có trung bình 10-15 virus mới được tạo ra mỗi ngày và chính bản thân các chương trình antivirus cũng không có khả năng cập nhật liên tục để nhận dạng những virus mới xuất hiện. Đó là lý do tại sao chúng ta luôn cần phải xem xét cẩn thận mọi email, và nếu nhận được file đính kèm không được báo trước, tốt nhất bạn không mở email cho tới khi có cơ hội trao đổi lại với người gửi.
Một số kiểu file được sử dụng để che dấu virus bao gồm:
- *.scr - Chương trình bảo vệ màn hình của Windows - Cẩn thận nếu bạn nhận được một chương trình bảo vệ màn hình qua email. Chúng thường chứa các loại sâu hoặc virus.
- *.pif - Không được mở! Đây thường là một virus. Ấn chuột vào phần mở rộng này sẽ chạy một chương trình hoặc một đoạn mã có thể gây rối loạn cho máy tính của bạn.
- *.exe - File thực thi - Một chương trình có thể chứa virus, Trojan hoặc worm. Tương tự như định dạng file .pif, khi nhận được 1 file đính kèm định dạng này, bạn hãy cân nhắc thật kỹ trước khi kích hoạt chúng.
- *.pps - MS power point (có thể chứa virus macro)
- *.zip - File nén định dạng zip
- *.vbs - file nguồn của Visual Basic
- *.bat - File thực thi của MS-DOS (có thể chứa virus)
- *.com - Lệnh thực thi DOS
- *.asp - active server page - Kịch bản Internet
- *.doc - Tài liệu Word (có thể chứa virus macro)
- *.xsl - File Excel (có thể chứa virus macro)
Không thể có được một danh sách hoàn thiện. Một file đính kèm cũng không thể được coi là một virus nếu có phần mở rộng nằm trong danh sách trên, nhưng đó cũng là một cảnh báo. Các ****er rất khôn khéo trong việc sử dụng các tiêu đề email, và virus dường như xuất hiện từ một người bạn của bạn, vì vậy hãy khôn ngoan và đừng trở thành nạn nhân của những cái bẫy đó. Hãy quét virus những file đính kèm và xác nhận với người gửi trước khi mở chúng. Trong trường hợp người gửi là một người xa lạ không quen biết, thì tốt nhất, bạn hãy quên nó đi.
Trong trường hợp muốn an toàn, bạn nên sử dụng đến tiện ích Virus Total để kiểm tra file bằng những chương trình antivirus danh tiếng trước khi mở chúng để xem nội dung.
Kường™
30-07-2008, 06:19 PM
Không cần cài đặt bất kỳ phần mềm diệt virus nào, bạn vẫn kiểm tra nhanh một file nào đó trước khi dùng, thậm chí có thể kiểm tra một file với cùng lúc nhiều phần mềm diệt virus khác nhau.
Nhiệm vụ của các phần mềm diệt virus là tìm và diệt những virus gây hại cho máy tính. Tuy nhiên, đôi khi có những virus mới mà các chương trình diệt virus của bạn chưa kịp cập nhật cơ sở dữ liệu nên không thể nhận ra. Bạn có thể scan một vài file bất kỳ, kiểm tra chúng có bị nhiễm virus, malware, worm hay trojan hay không mà không cần phải dùng đến một chương trình nào. Hãy thử qua chức năng kiểm tra virus trực tuyến của VirusTotal tại địa chỉ : http://www.virustotal.com/ (http://www.virustotal.com/)
VirusTotal là một tiện ích miễn phí giúp bạn thuận tiện và nhanh chóng trong việc phát hiện virus, malware, worm và trojan. VirusTotal sẽ phân tích file hệ thống của bạn bằng cách sử dụng cơ sở dữ liệu của nhiều chương trình diệt virus khác nhau do đó bạn không sợ rằng virus sẽ lọt qua được sự kiểm soát của VirusTotal.
Tuy nhiên, VirusTotal không phải là sự thay thế thích hợp cho một chương trình diệt virus thực sự, bởi vì nó chỉ có tác dụng khi bạn kết nối Internet. Do đó chỉ sử dụng tiện ích này khi bạn muốn kiểm tra một file nào đó một cách nhanh chóng.
Các bước để tiến hành kiểm tra.
- Đầu tiên bạn truy cập vào địa chỉ http://www.virustotal.com/ để bắt đầu quá trình kiểm tra.
- Click vào Browse để chọn đến file cần kiểm tra. Sau khi chọn đúng file, bạn nhấn nút Send file ở bên dưới để bắt đầu quá trình kiểm tra.
- Bây giờ, quá trình sẽ mất một khoảng thời gian để upload file đó lên server (khoảng thời gian chờ phụ thuộc vào dung lượng file và tốc độ đường truyền). Sau khi upload xong, quá trình kiểm tra sẽ bắt đầu.
- Bạn lại chờ thêm một lúc để quá trình kiểm tra sử dụng phiên bản mới nhất của các chương trình diệt virus mạnh nhất để đưa cho bạn kết quả của các chương trình diệt virus khác nhau đối với file cần kiểm tra.
VirusTotal sử dụng hơn 30 chương trình AntiVirus khác nhau và đều là những chương trình có uy tín do đó bạn hoàn toàn tin tưởng kết quả mà VirusTotal mang đến cho bạn. Bây giờ, bạn hoàn toàn yên tâm rằng một file có sạch sẽ để sử dụng hay không mà không cần phải cài đặt quá nhiều chương trình diệt virus.
Kường™
30-07-2008, 06:19 PM
Việc ép xung (overclock - OC) để tăng sức mạnh hệ thống diễn ra trước khi xuất hiện PC, được thực hiện trên nhiều thiết bị nhỏ và đơn giản hơn, nhưng huyền thoại về vi xử lý 8088 8 MHz được ép lên 12 MHz đã khởi đầu trào lưu này.
Sau đó, ép xung được chia làm hai nhánh: số đông ép xung để có khả năng hoạt động tốt nhất trên túi tiền hạn chế; số ít ép xung để có được sức mạnh “siêu đẳng” bằng bất kỳ giá nào.
Khái niệm về ép xung
Ép xung là hoạt động làm tăng tốc độ của bất kỳ thành phần nào lên cao hơn mức chỉ định của nhà sản xuất. Từ “đồng hồ” bắt nguồn từ việc người ta dùng máy tạo dao động (oscillator) để thiết lập một nhịp mà từ đó tạo nên những tần số cao hơn. Các thiết bị đơn giản nhất hoạt động với tần số của máy tạo dao động này để vi xử lý 8 MHz cần một đồng hồ 8 MHz. Việc ép xung các vi xử lý “đời đầu” này khá đơn giản, chỉ là thay mặt đồng hồ từ 8 thành 12 MHz.
Khi máy tính ngày càng phức tạp hơn, một mặt đồng hồ không thể hỗ trợ nhiều mức tốc độ mà các loại bus dữ liệu khác nhau yêu cầu. Dù bo mạch chủ có thể chứa vài máy tạo dao động cho các thiết bị, một mạch điện tích hợp thêm lại phải hỗ trợ các mức tốc độ khác nhau cho nhiều giao tiếp. Vì vậy, người ta nghĩ ra thiết bị tạo tín hiệu xung đồng hồ (clock generator) theo nhiều bội số và phân số của máy tạo dao động. Thiết bị tạo tín hiệu xung đồng hồ này ngày càng tinh vi hơn, đến mức các bo mạch và một vài thành phần gắn thêm giờ đều hỗ trợ các tần số tinh chỉnh trong vài thao tác.
Sự xuất hiện của thiết bị tạo tín hiệu xung đồng hồ có thể tinh chỉnh đã cho phép kỹ thuật ép xung được thực hiện, mà không cần thay các thành phần như mặt đồng hồ. Những tiến bộ xa hơn trong sản xuất BIOS và phần mềm firmware giờ cũng giúp tốc độ của thiết bị được cải thiện mà không phải thay đổi cài đặt chân cắm (jumper).
Lợi ích và rủi ro
Ép xung cho phép hệ thống cấp thấp có thể đạt đến mức độ hoạt động mạnh mẽ hơn. Ví dụ, chip Pentium IV 3,0 GHz có thể đạt 3,4 GHz. Tuy nhiên, nguy cơ lớn nhất của việc này là gây hư hại phần cứng, mất dữ liệu. Vì vậy, người ta phải cho hệ thống qua các quy trình kiểm nghiệm để tránh rủi ro. Các yếu tố sau đây ảnh hưởng lớn tới “sự sống” của máy.
Tốc độ: Các mạch điện tích hợp có tuổi thọ nhất định vì mỗi hoạt động sẽ làm thoái hoá chúng ở một mức nhỏ. Việc tăng gấp đôi số vòng hoạt động trong mỗi giây sẽ làm tuổi thọ này giảm đi một nửa.
Nhiệt lượng: Các mạch điện thoái hoá nhanh hơn khi nhiệt độ tăng. Nhiệt độ cũng là kẻ thù của sự ổn định trong hệ thống nên người ta sẽ phải tìm nhiều cách để giữ máy luôn mát mẻ. CPU được thiết kế để hoạt động từ -25 đến 80 độ C, nhưng thông thường phải luôn giữ chúng dưới 50 độ và càng mát càng tốt.
Hiệu điện thế tăng cho phép các tín hiệu truyền đi mạnh hơn, nhưng cũng khiến mạch điện thoái hoá nhanh và gây hỏng hóc. Việc tăng hiệu điện thế cũng song hành với tăng nhiệt độ, dù không làm hỏng chip ngay, nhưng sẽ dần dần làm giảm tuổi thọ của nó.
Những thành phần có thể ép xung
Người ta có thể tối ưu hóa hoạt động chủ yếu cho vi xử lý, bộ nhớ và chip đồ họa. Những thành phần khác như bus PCI và PCI Express, cổng ****** hay USB cũng có thể áp dụng phương pháp này, nhưng kết quả không rõ ràng.
Ép xung CPU
Lõi của các vi xử lý hiện nay hoạt động ở nhiều bội số của tốc độ đồng hồ. Ví dụ Pentium III 500 MHz chạy được gấp 5 lần front side bus 100 MHz (5 x 100 MHz = 500 MHz). Chỉnh bội số này hoặc tần số lên cũng mang lại tốc độ cao hơn. Ví dụ: 600 MHz có thể đạt được bằng cách nâng bội số bằng 6 hoặc tăng tốc độ bus lên 120 MHz để 5 x 120 MHz = 600 MHz.
Khó khăn duy nhất với cách phân tích này là những vi xử lý loại đó lại có bội số cố định nên việc nâng 5x lên 6x không phải lựa chọn của người ép xung. Tuy nhiên, người ta có thể nâng bội số với một số mẫu chip khác sau khi "bẻ khóa". Ví dụ, vi xử lý Slot A Athlon đã được tăng tốc theo cách này trước khi sản phẩm thương mại xuất hiện trên thị trường.
Tần số CPU vẫn bắt nguồn từ bội số của tốc độ đồng hồ chứ không phải tốc độ dữ liệu. Front side bus 1066 của Intel hoạt động trên tốc độ đồng hồ là 266 MHz, HyperTransport Interconnect 2000 MHz của AMD dùng đồng hồ tốc độ 200 MHz. Điều này có nghĩa là một chip Athlon 64 X2 4600+ của AMD dùng bội số 12x để đạt được mức 2,4 GHz, trong khi Core 2 Duo E6600+ của Intel đạt 2,4 GHz bằng cách dùng bội số 9x.
Ép xung bộ nhớ
Hầu hết các bộ nhớ có thể tối ưu hóa ở mức độ nào đó, nhưng khá phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: chất lượng của chip, thiết kế bo mạch và lắp ráp module. Ép xung bộ nhớ đã trở nên phổ biến đến mức các nhà sản xuất RAM đã công bố những sản phẩm nhanh nhất khi áp dụng cách này.
Lợi thế của ép xung bộ nhớ là vượt xa khả năng hoạt động cơ bản của chúng để có tốc độ nhanh tương đương CPU. Ví dụ, Pentium III được ép xung tới 150 MHz sẽ phối hợp tốt với bộ nhớ cũng đạt tốc độ này.
Một số tay ép xung còn thiếu kinh nghiệm thường đẩy RAM quá giới hạn ổn định của nó và khi thất bại lại cho rằng, đó là do thành phần sai. Sự "hiểu nhầm" này bắt nguồn từ menu BIOS hiển thị tốc độ bộ nhớ như tốc độ dữ liệu liên quan đến CPU không được ép xung. Do trình điều khiển bộ nhớ chạy RAM với tốc độ như CPU nên bất cứ sự thay đổi nào về tốc độ CPU cũng gây ra ảnh hưởng nhất định đối với tốc độ bộ nhớ.
Ví dụ một chip FSB1066 Core 2 Duo đi kèm bộ nhớ DDR2-533 đều hoạt động ở tốc độ đồng hồ 266 MHz. Chọn cài đặt bộ nhớ 533 MHz và ép xung CPU lên 333 MHz sẽ khiến bộ nhớ chạy ở mức 667 MHz, mặc dù BIOS vẫn báo là 533 MHz. Một số nhà sản xuất phải cho thêm hai thông báo tốc độ gốc và tốc độ thực sự. Còn những ai không có thông báo này thì cần làm phép tính thủ công.
Ép xung bộ nhớ cũng có những rủi ro như mất dữ liệu khi chương trình bị lỗi, hỏng hóc do quá nóng...
Ép xung card đồ họa
Tần số của card đồ họa độc lập với cài đặt của bo mạch chủ mà phụ thuộc vào đồng hồ và mạch điện điều khiển riêng. Các cài đặt này được lưu ở firmware của card, cho phép các chương trình ép xung card đồ họa đặc biệt chỉnh được tốc độ vi xử lý và RAM đồ họa ngay trong Windows. Thiết bị này cũng đối mặt với nhiều rủi ro về nhiệt độ, gây ra tình trạng hỏng hình ảnh khi ép xung thất bại.
Kường™
30-07-2008, 08:12 PM
Dù là PC hay laptop, màn hình desktop là nơi người dùng dành phần lớn thời gian làm việc. Tại sao không bỏ chút thời gian thay đổi diện mạo, thể hiện “cái tôi” cá nhân trên desktop của riêng bạn?
Năm bước từ đơn giản đến phức tạp sau đây sẽ khiến người khác phải “trầm trồ” khi có dịp “thưởng lãm” desktop của bạn.
1. Desktop “trắng trơn”
Nghe có vẻ đơn giản, nhưng rất nhiều người tỏ ra ngạc nhiên khi chứng kiến màn hình desktop với wallpaper “chơ vơ một mình”. Màn hinh của bạn sẽ còn “ấn tượng” hơn nữa với bức ảnh nền được chọn lựa cẩn thận – như trong hình.
Cách thực hiện: chuột phải lên màn hình desktop, chọn Arrange icon by > bỏ chọn “show desktop icon”. Một cách khác là download bộ công cụ tweak UI (http://dantri.com.vn/cong-nghe/Tao-dau-an-ca-nhan-tren-man-hinh-desktop/2008/5/(http://download.microsoft.com/download/f/c/a/fca6767b-9ed9-45a6-b352-839afb2a2679/TweakUiPowertoySetup.exe) từ trang chủ Microsoft, và bỏ chọn toàn bộ các biểu tượng My computer, Recycle Bin v..v trên màn hình.
Nếu không quen sử dụng Startmenu sau khi đã “làm sạch” màn hình, bạn có thể sử dụng vài công cụ khác như bộ phần mềm Object Dock (http://dantri.com.vn/cong-nghe/Tao-dau-an-ca-nhan-tren-man-hinh-desktop/2008/5/www.stardock.com/products/ObjectDock)của Stardock.
2. Giao diện “không theo chuẩn”.
Giao diện trắng/xanh của Windows XP có thể khiến fan trung thành nhất phát ngán sau hàng năm trời “ăn ngủ cùng XP”. Rất may, bạn có thể thay giao diện Luna mặc định bằng phần mềm - mà nổi tiếng nhất là WindowsBlind (http://www.stardock.com/products/windowblinds/) cũng của Stardock. Nếu không muốn trả tiền, các bộ giao diện miễn phí cũng thừa sức làm bạn hài lòng, đặc biệt là FlykiteOSX (http://osx.portraitofakite.com/) nhái Mac của Apple! Người dùng Windows Vista có ít lựa chọn hơn, nhưng giao diện Aero “gương kính” mặc định của hệ điều hành này dư sức “đua sắc” cùng Mac OS.
3. Windows không taskbar
http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/nguyenhuong/thang5.08/windows1.jpg
Không phải chức năng “hide taskbar” thông thường, phần mềm Xneat (http://www.xneat.com/windows-manager/) ẩn hoàn toàn taskbar, mang lại ngạc nhiên thú vị cho bất kì ai có dịp “tham quan” desktop của bạn. Taskbar không bị giấu đi, mà chỉ đơn giản trở nên trong suốt. Nếu muốn, bạn có thể thay thế hoàn toàn taskbar bằng phần mềm khác, như Object Dock đã đề cập ở trên.
4. Icon lạ mắt
http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/nguyenhuong/thang5.08/Aveiconer.jpg
Các biểu tượng mặc định của Windows đã “ăn sâu” vào tâm trí người dùng đến mức họ không dám “chạm” vào các icon chưa từng gặp. Có rất nhiều cách thay đổi icon, từ dùng “hàng” mặc định của Windows (chuột phải, properties > customize > change icon), hoặc dùng phần mềm AveIconifier (http://www.winmatrix.com/forums/index.php?showtopic=17740) (kết hợp với các site phổ biến như Free Icon Download (http://www.freeiconsdownload.com/), CrystalXP.net (http://www.crystalxp.net/), Icon Archive (http://www.iconarchive.com/) . Những người ngại mày mò thử nghiệm phần mềm mới sẽ ưng ý với giải pháp trọn gói IconPackager (http://www.stardock.com/products/iconpackager/) của StarDock.
5. Thay đổi “toàn diện” màn hình đăng nhập & màn hình khởi động.
http://images7.dantri.com.vn/Uploaded/nguyenhuong/thang5.08/Logon-loader.jpg
Ít người biết màn hình đăng nhập (Log on Screen) và thậm chí màn hình khởi động (bootscreen) “cũ rích” của Windows cũng có thể được thay thế. Có hằng hà sa số phần mềm hãng thứ ba làm được việc này, nhưng hai ứng viên miễn phí BootSkin (http://www.stardock.com/products/bootskin/) của Stardock và LogOnloader (http://www.milnersolutions.com/logonloader/) sẽ khiến bạn hài lòng.
Kường™
31-07-2008, 08:30 AM
Bất chấp cơn ác mộng máy tính bị hư hỏng hệ thống và không thể kiểm soát được các phần mềm quảng cáo, môt số phần mềm chia sẻ và miễn phí quá hấp dẫn không thể bỏ qua. Hãy theo những hướng dẫn tổng quát sau khi bạn tải về phần mềm. Nếu may mắn tìm đúng chỗ, thậm chí một số chương trình chia sẻ và miễn phí cũng có thể giúp bạn giải quyết vấn đề.
1. Chọn site download cẩn thận. Không phải tất cả các site đều có kiểm tra virus, spyware, tính ổn định và dùng được của phần mềm. Những phần mềm trong mục Download của PCWorld.com đều đã được kiểm tra cẩn thận, có thể tin cậy được.
2. Trước khi download, hãy tìm đọc đánh giá chuyên nghiệp hay nhận xét của người dùng. Các site download tốt nhất đều có cung cấp thông tin nhận xét đánh giá của nhóm biên tập và cho phép người dùng gửi ý kiến về ưu, nhược điểm của phần mềm.
3. Hãy tự hỏi xem bạn có thật sự cần phần mềm đó không. Microsoft cung cấp rất nhiều tiện ích kèm theo mỗi phiên bản Windows, như tiện ích dò lỗi và sắp xếp đĩa cứng, tiện ích giám sát hệ thống, và chương trình sao lưu dữ liệu. Tại sao bạn lại phải mất công dùng thử phần mềm không rõ xuất xứ trong khi Windows có công cụ thực hiện cùng chức năng.
4. Kiểm tra xem tác giả hay hãng phần mềm có cung cấp hỗ trợ kỹ thuật không. Thường thì bạn sẽ tìm thấy địa chỉ web site, địa chỉ email hay số điện thoại.
5. Ðọc kỹ thỏa thuận sử dụng phần mềm và xem xét cẩn thận màn hình cài đặt. Ðây là hai cách tốt nhất để xem chương trình miễn phí có kèm theo phần mềm gián điệp không. Nếu bạn không hiểu rõ thỏa ước, hãy kiểm tra ở Spychecker.com, web site này cung cấp cơ sở dữ liệu các chương trình download có kèm quảng cáo (adware) và gián điệp (spyware).
6. Nếu bạn đã vô tình download phần mềm quảng cáo hay gián điệp, và giờ bạn muốn loại bỏ nó, hãy tìm xem phần mềm có chức năng gỡ bỏ cài đặt không. Ví dụ, bạn có thể gỡ bỏ phần mềm của Radiate bằng cách dùng chương trình tải về từ website của công ty này (chương trình này có ở find.pcworld.com/26381).
7. Nếu bạn muốn quét máy tính của mình để kiểm tra phần mềm gián điệp, thử dùng chương trình miễn phí Ad-aware của Lavasoft (find.pcworld.com/26561); chương trình này có thể tìm và gỡ bỏ hầu hết những phần mềm lén lút. Nhớ cập nhật chương trình mới nhất.
8. Gạt bỏ nguy cơ. Một khi bạn có vấn đề với phần mềm, hãy loại bỏ nó đừng do dự. Nếu chương trình không có chức năng gỡ bỏ cài đặt, hãy thử dùng Add/Remove của Windows. Nếu không được, hãy dùng Add/Remove 4Good của 4Developer (find.pcworld.com/26562), phần mềm chia sẻ giá 13USD này có phiên bản dùng thử cho phép gỡ bỏ hoàn toàn bảy chương trình.
9. Hãy xóa sạch các file DLL rác và các mục ở bên trái của Windows Registry liên quan phần mềm đã gỡ bỏ. Người dùng có kiến thức có thể tự tin thực hiện việc này bằng cách thủ công, nhưng tốt hơn nên dùng chương trình đáng tin cậy để thực hiện, chẳng hạn như Perfect Companion của Easy Desk Software giá 30USD, có bản dùng thử (find.pcworld.com/26563).
Kường™
31-07-2008, 08:30 AM
PDF (Portable Document Format) là một chuẩn về định dạng file tài liệu do hãng Adobe tạo ra và đã được áp dụng rộng rãi trong các ứng dụng văn phòng kể cả lĩnh vực Internet.
1. Tạo máy in PostScript ảo:
Để có thể chuyển đổi từ dạng DOC sang PDF, chúng ta phải có một máy in ảo dạng PostScript trên máy. Và máy in ảo này sẽ làm nhiệm vụ chuyển đổi (convert) định dạng từ file DOC sang dạng PostScript mà Acrobat có thể hiểu được. Để làm được điều này, bạn vào Control Panel/Printers/Add Printer, sau đó có thể chọn bất kỳ máy in nào dạng PostScript để cài đặt (máy in PostScript là máy in có chữ "PostScript" trong tên của máy in). Trong bài này, tôi sẽ chọn máy HP/HP LaserJet 4L/4M PostScript. (Lưu ý: Vì đây là cài đặt máy in ảo nên bạn có thể chọn một máy in bất kỳ miễn là dạng PostScript).
2. Chuyển đổi từ DOC sang PostScript:
Dùng Word để mở file DOC mà bạn muốn chuyển đổi, chọn File/Print, sau đó chọn máy in là máy PostScript mà bạn vừa cài đặt, và vì chúng ta chỉ cần chuyển đổi sang dạng PostScript chứ không cần in thực sự, nên chúng ta sẽ đánh dấu chọn mục Print to file (hoặc nhấn phím Alt + L trong cửa sổ Print) - nhấn OK, Word sẽ hỏi bạn nơi để lưu file PostScript này, bạn nhập tên và lưu vào đĩa.
3. Chuyển từ PostScript sang PDF:
Để chuyển từ PostScript sang PDF, bạn cần một công cụ có tên là Acrobat Distiller, công cụ này rất phổ biến, có dung lượng khá nhỏ và có thể tìm ở địa chỉ www.adobe.com (http://www.adobe.com/) hoặc ở bất kỳ trang web phần mềm nào. (Lưu ý: Khi bạn cài đặt Acrobat hoặc bất cứ phần mềm nào của hãng Adobe đều có sẵn công cụ này).
Bạn chạy Acrobat Distiller, chọn File/Open để mở file PostScript mà bạn vừa lưu (hoặc có thể kéo và thả file PostScript đó vào trong cửa sổ của Acrobat Distiller), chương trình sẽ tự động chuyển đổi và kết quả là bạn sẽ được file văn bản ở dạng PDF (nằm chung thư mục chưa file PostScript). Một điều rất hay là mọi định dạng về font chữ, màu sắc, hình ảnh, paragraph... trong file Word sẽ vẫn được giữ nguyên khi chuyển sang PDF, vì vậy bạn có thể yên tâm là tài liệu của bạn vẫn được giữ nguyên mọi định dạng như bên file Word (bạn có thể dùng Acrobat Reader để mở ra kiểm tra lại).
Việc chuyển đổi này rất hữu ích cho những bạn phải mang tài liệu đi in hoặc gửi cho ai đó ở nơi khác (như luận văn tốt nghiệp, bản báo cáo...) mà bạn không chắc là người nhận sẽ có đầy đủ font chữ mà bạn đã dùng. Việc chuyển sang PDF sẽ giúp bạn loại bỏ rào cản về font chữ này, vì như đã nói, PDF cho phép in ấn mà không cần phải có font chữ trên máy.
Kường™
31-07-2008, 08:36 AM
Hiện nhiều người gặp rất nhiều khó khăn khi ở trong tình trạng mất hết các thư cũ mỗi lần format ổ C để cài lại Windows và phải bung file Ghost ra để phục hồi hệ điều hành đã lưu trước. Giải pháp dưới đây giúp bạn có thể format lại ổ C, cài lại Windows mà không bị mất các thư cũ.
Trong trường hợp thực hiện các thao tác cài lại Windows như vậy, quý vị nên dời kho thư của Outlook Express sang một phân vùng khác. Để sao lưu toàn bộ folder của Outlook Express, bao gồm cả các thư trong Inbox, quý vị dùng trình quản lý file trong Windows Commander, Norton Commander, PowerDesk để mở dần theo đường dẫn: Document and Setting\ (thư mục mang tên account của người sử dụng trong Windows)\ Local Settings\ Application Data\Dentities\(thư mục có tên là một chuỗi chữ và số)\Microssoft\ Outlook Express\ và copy các file trong đó vào thư mục nào đó mà bạn muốn dùng làm nơi lưu trữ.
Bây giờ để Outlook Express chuyển sang làm việc với kho thư mới, bạn nháy lên menu Tools trong cửa số làm việc của Outlook Express và chọn Option. Khi hộp thoại Option xuất hiện, chọn tab Maintenance. Trên hộp thoại này, nhấn nút Store Folder. Sau đó, nháy chuột vào nút Change trên hộp thoại Store Location để thay đổi vị trí lưu thư.
Trên hộp thoại Browse for Folder (duyệt tìm thư mục), bạn dùng chuột kéo thanh trượt để trỏ tới thư mục lưu trữ, nhấn OK. Trở lại hộp thoại Store Location, quý vị nhấn OK để xác nhận thư mục ‘‘kho thư’’ mà Outlook Express bắt đầu làm việc. Bạn cần chạy lại Outlook Express để việc thay đổi này có hiệu lực.
Với những thao tác trên đây kho thư của bạn trong Outlook Express sẽ được bảo lưu nguyên vẹn.
Kường™
31-07-2008, 09:16 AM
Đổi tên chương trình I.E: Nếu bạn không thích dòng chữ “Internet Explorer” trên thanh tiêu đề của IE, thì bạn có thể đổi nó thành một tên khác do bạn quy định.
Khóa: [H***_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Internet Explorer\Main]<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com:office:office" />
Tên: Window Title
Kiểu dữ liệu: REG_SZ (String Value)
Giá trị: Dòng chữ bạn muốn thay chữ “Internet Explorer” của I.E, ví dụ như “Trinh duyet web”.
Dấu nút “Go” của I.E
Khóa: [H***_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Internet Explorer\Main]
Tên: ShowGoButton
Kiểu dữ liệu: REG_SZ (String Value)
Giá trị: “no”
Để hiển thị nút “Go” lại, bạn thay giá trị “no” bằng “yes”!
Tắt chế độ báo cáo khi tải xong file
Chế độ báo cáo khi tải thành công một file nào đó trên Internet của I.E cũng có điểm hay vì nó sẽ giúp bạn biết được file nào đã được tải hoàn tất. Tuy nhiên, nếu bạn đang tải cùng lúc nhiều file - hoặc đang mở quá nhiều cửa sổ thì cách hay hơn cả là khi tải xong, IE sẽ tự đóng lại giùm bạn. Việc làm này giúp đóng bớt cửa sổ trên desktop và trả lại bộ nhớ cho hệ thống. Và sau đây là cách làm:
Khóa: [H***_CURRENT_USER\Software\Microsoft\Internet Explorer\Main]
Tên: NotifyDownloadComplete
Kiểu dữ liệu: REG_SZ (String Value)
Giá trị: “yes”
Nếu bạn muốn I.E báo cáo trở lại, hãy thay đổi giá trị “yes” bằng “no”.
Thay đổi cách xem source HTML
Mặc định IE sẽ dùng Notepad để hiển thị mã nguồn (source code) của trang web mà bạn đang xem khi bạn chọn mục View Source. Tuy nhiên không ai lại thiết kế website bằng... Notepad cả - vì thế để tiện hơn khi cần xem mã nguồn trang web, bạn có thể quy định I.E hiển thị mã nguồn trong Frontpage, DreamWaver chẳng hạn:
Khóa: [H***_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Internet Explorer\
View Source Editor\Editor Name]
Tên: (Default)
Kiểu dữ liệu: REG_SZ (String Value)
Giá trị: Đường dẫn đến chương trình mà bạn muốn mở mã nguồn, ví dụ như: “C:\Program Files\Microsoft Office\Office10\FRONTPG.EXE” (yêu cầu Frontpage mở mã nguồn).
Kường™
31-07-2008, 04:25 PM
Bạn đã đến thời hạn cuối cùng phải bàn giao sản phẩm ứng dụng web ASP.NET nhưng vẫn tồn tại một số vấn đề xung quanh tốc độ thực thi trang web?
1. Các đối tượng
Khi khởi tạo một đối tượng truy cập dữ liệu, điều quan trọng là bạn phải có cái nhìn về khoảng thời gian tồn tại của nó và khi đối tượng này trở nên không còn cần thiết nữa thì nó sẽ lấy gì để loại bỏ chính nó. Tôi thường thấy các nhà phát triển tạo ra, mở và sử dụng một DataReader nhưng không làm gì để bỏ nó. Hãy đảm bảo rằng các đối tượng truy nhập dữ liệu đều được quản lý; Điều này sẽ khiến bạn gặp phải một vấn đề lớn từ những thắc mắc tại sao các quy trình xử lý IIS liên tục tiêu tốn bộ nhớ cho đến khi hệ thống phải ngưng lại. Thực hiện một tìm kiếm nhanh bên trong giải pháp cho bất kỳ trạng thái của DataReader mới được tạo nào. Đối với mỗi trạng thái tìm được, hãy đảm bảo rằng DataReader đã được đóng và loại bỏ. Sử dụng khối try/catch/finally bao quanh DataReader hay dùng câu lệnh nếu có một ngoại lệ xuất hiện, khối cuối cùng sẽ xử lý đóng và sắp xếp DataReader.
Ví dụ sử dụng câu lệnh: using (IDataReader reader = MySite.GetSearchResults()){//Consume the datareaderwhile (reader.Read()){//Do something with the data})
Ví dụ khối try/catch/finally: IDataReader reader;try{reader = MyWeb.GetSearchResults();while (reader.Read()){//Do something with the data}}catch (Exception ex){//Log the exception}finally{//Dispose the object if it existsif (reader != null)reader.Dispose();}2. Quản lý các vùng ứng dụng IIS
Khi xử lý một ứng dụng web sẽ có nhiều hơn một thành phần liên quan. Thông thường bạn có trang web chính, một hay nhiều dịch vụ web và một ứng dụng xử lý ảnh. IIS 6.0 cho bạn tạo ra nhiều vùng ứng dụng. Các vùng ứng dụng cho phép nhóm các ứng dụng được cung cấp bởi các quy trình xử lý riêng lẻ. Một trong số những lợi thế của việc phân chia những ứng dụng thành các vùng ứng dụng riêng lẻ đó là mỗi quá trình nhân công xử lý sử dụng một bộ nhớ của riêng mình. Không quan trọng bạn có bao nhiêu bộ nhớ trên máy chủ, một quá trình ASP.NET sẽ được tiến hành chậm dần cho tới khi bộ nhớ mà nó tiêu dùng lên tới 800-900 Mb.
3. Quản lý trạng thái ASP.NET
Có hiểu biết về các loại trạng thái khác nhau của ASP.NET là rất quan trọng để cải thiện tốc độ thực thi các ứng dụng. ASP.NET có nhiều trạng thái khác nhau, nhưng những trạng thái mà bạn cần phải đặc biệt chú ý là trạng thái ứng dụng, trạng thái phiên và các thông tin thuộc tính bởi vì mọi dữ liệu đều nằm trong bộ nhớ trên server. Tránh lưu trữ quá nhiều dữ liệu trong bất kỳ trạng thái nào trong ba cái trên trừ phi thật cần thiết. Nếu cần lưu trữ dữ liệu tại trạng thái phiên, hãy lưu trữ bất kì dữ liệu nào bạn cần, như các trường nhận biết hay các dữ liệu tĩnh thường xuyên được sử dụng. Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu thêm thì có rất nhiều bài viết trên mạng thống kê tất cả sự khác nhau của các trạng thái ASP.NET. Mỗi kiểu trạng thái chỉ nên được sử dụng khi cần thiết. Hãy dành thời gian để học và hiểu thật kỹ chúng.
Trạng thái khác mà bạn nên chú ý là trạng thái “view”; trạng thái này ảnh hưởng tới máy khách. Nó được dùng để giữ gìn các giá trị trên trang hay điều khiển giữa các di chuyển qua lại trên máy chủ. Theo mặc định, trạng thái “view” được bật cho các trang ASP.NET. Không phải tất cả trang đều yêu cầu trạng thái “view”. Những trang web lớn có thể có một số lượng khổng lồ dữ liệu được lưu trữ. Một cách để biết chính xác trạng thái “view” như thế nào bạn hãy mở “View Source” từ trình duyệt web. Một khối lớn các dữ liệu mã hóa chính là trạng thái “view”. Bạn có thể đánh giá trang web bằng cách xác định liệu có cần trạng thái “view” hay không. Bạn có thể tắt trạng thái “view” cho toàn bộ trang, điều khiển người dùng. Nếu tắt trạng thái “view” trên một trang hay điều khiển, hãy chắc chắn rằng bạn đã kiểm tra trang web để biết rằng chúng vẫn tiếp tục hoạt động chính xác
4. Xóa các Style Sheet và Script File
Một cách nhanh chóng và dễ dàng để cải thiện tốc độ ứng dụng web là quay trở lại dọn đẹp sạch sẽ các file CSS Style Sheet và Script File của các mã và hàm không cần thiết. Thường thì các mẫu và hàm cũ vẫn còn tồn tại trong style sheet và script file trong thời gian cải tiến web. Nhiều website sử dụng CSS Style Sheet hay các Script File đơn cho toàn bộ website. Đôi khi, xem lại và dọn dẹp chúng có thể cải thiện tốc độ thực thi của trang web bằng việc giảm bớt kích thước trang. Nếu bạn tham chiếu tới hình ảnh mà không được sử dụng trên website thì thật là phí thời gian để tải chúng. Chạy một chương trình phân tích trang web bạn có thể nhìn thấy chính xác cái gì đang được tải và cái gì mất nhiều thời gian nhất để tải.
5. Thử tải trang web với hệ thống Visual Studio
Tải thử là rất quan trọng để phát hiện vấn đề thực thi và đo thời gian tác động. Visual Studio Team System (VSTS) bao gồm một công cụ tuyệt vời và đơn giản để tải thử ứng dụng web và đưa ra báo cáo. Sử dụng thuật tải thử thực hiện rất dễ chỉ qua một số bước cần thiết. Bắt đầu bằng việc tạo ra một hoặc nhiều web thử và định hình các thuộc tính trên mỗi web thử để mô phỏng người dùng. VSTS dùng Web Page Recorder cho phép bạn ghi một loạt các bước thực hiện trên website. Thiết lập các bộ đếm trên máy chủ sử dụng tốc độ màn hình. Sử dụng các bộ đếm để theo dõi các hoạt động đặc biệt trên máy chủ như các byte cá nhân, byte ảo và tỷ lệ phần trăm CPU. Nếu bộ nhớ bị lãng phí trong ứng dụng, bạn sẽ dễ dàng khám phá ra bằng cách kiểm tra bộ nhớ. Kết quả sẽ thay đổi phụ thuộc vào ứng dụng nào được tải, nhưng bộ nhớ máy chủ cần phải đạt đến một số lượng chắc chắn và ổn định. Hình dưới là một ví dụ của tải thử bằng VSTS.
http://mst.24h.com.vn/upload/news/2007-12-26/hanhdttFiveSteps.jpg
VSTS kiểm tra quá tình tải web
Kường™
31-07-2008, 04:25 PM
Bạn có chắc rằng khi xoá đi các file tạm sẽ làm tăng tốc hiệu suất hoạt động của Win XP. Việc làm đó chưa hoàn toàn đúng...
1. Dọn sạch thư mục Prefect
Huyền thoại 1: Xoá mọi thứ nằm trong thư mục Prefect sẽ cải thiện hiệu suất hoạt động XP.
Thực chất: Mỗi lần bạn xoá một Prefect của một ứng dụng nào đó, bạn sẽ làm thời gian nạp file tăng thêm gấp đôi trong lần tới. Dù sao, Win XP cũng lại tạo ra một Prefect khác thôi.
Huyền thoại 2: Dọn dẹp Prefect vì thư mục ấy có thể bị nhiễm thêm virus hay malware.
Thực chất: Virus, malware có thể làm nhiễm bất cứ thư mục nào và thư mục Prefect cũng không là một ngoại lệ. Bạn chỉ nên xoá file nào đó bị nhiễm chứ không phải xoá nguyên một thư mục.
2. Xoá mọi file tạm
Huyền thoại: Xoá đi các file tạm sẽ làm tăng tốc hiệu suất hoạt động của Win XP.
Thực chất: Xoá đi các file tạm chỉ có thể tăng thêm khoảng trống cho đĩa cứng chứ không cải thiện gì hiệu suất của XP. Xoá đi file cache của trình duyệt web sẽ làm giảm hiệu suất với các trang web đã xem qua vì phải nạp lại. Do vậy bạn không nên cứ hàng giờ lại xoá đi những file tạm.
3. Bất hoạt DrWatson
[HKLM\SOFTWARE\Microsoft\WindowsNT\
CurrentVersion\AeDebug]
Huyền thoại: Bất hoạt chương trình này sẽ cải thiện được hiệu suất vì nó luôn luôn chạy.
Thực chất: Khi có lỗi hệ thống, DrWatson mới làm việc, tự động tạo ra file log. Nếu hệ thống không có vấn đề gì thì DrWatson không hoạt động, trừ khi bạn bắt nó phải làm việc.
4. Dọn sạch file hoán chuyển
[HKLM\SYSTEM\CurrentControlSet\Control\
SessionManager\MemoryManagenment]
"ClearPageFileAtShutdown"
Huyền thoại: Xoá file hoán chuyển vào lúc tắt máy sẽ giúp cải thiện hiệu suất XP.
Thực chất: Lúc tắt máy, nếu xoá file hoán chuyển (Pagefile.sys) thì sẽ không còn dữ liệu an toàn được lưu lại. Nếu bạn cho phép (enable) khoá này, thời gian tắt máy chắc chắn sẽ lâu hơn. Do cấu trúc bộ nhớ ảo Windows, các thông tin nhạy cảm như mật mã có thể vẫn còn có mặt trong file hoán chuyển. Do vậy, xoá file hoán chuyển không phải là biện pháp thích hợp tăng hiệu suất máy tính, nhưng bạn vẫn có thể làm điều ấy vào lúc Windows không chạy để bảo mật.
5. Bất hoạt file hoán chuyển
Huyền thoại: Bất hoạt file hoán chuyển Windows sẽ cải thiện được hiệu suất.
Thực chất: Bạn không cải thiện gì được khi tắt đi file hoán chuyển cả. Khi một ứng dụng nào đó khởi động, nếu không có file hoán chuyển hiện diện, nó buộc phải lấy số lượng lớn ở RAM. Tệ hơn nữa, một số ít chương tình có thể nạp vào RAM khiến máy ngừng hoạt động. Vài ứng dụng như Photoshop ra cảnh báo lúc khởi động khi không có file hoán chuyển nào có mặt.
6. Di chuyển file hoán chuyển sang phân vùng khác
Huyền thoại: Di chuyển như vậy sẽ cải thiện hiệu suất.
Thực chất: Di chuyển file hoán chuyển sang phân vùng khác trong c